<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162</id><updated>2012-02-16T18:02:42.365-08:00</updated><title type='text'>Ngôn Ngữ  Việt Nam</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>30</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-5436163577964440198</id><published>2011-06-17T19:13:00.000-07:00</published><updated>2011-06-17T19:16:32.140-07:00</updated><title type='text'>Phong ba bão táp có bằng ngữ pháp Việt Nam?*)</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; font-weight: bold;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Phong ba bão táp có bằng ngữ pháp Việt Nam?*)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;                                                                                               &lt;span style="font-style: italic;"&gt;     Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Học sinh và giáo viên dạy văn có câu  châm biếm truyền miệng “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”.&lt;br /&gt;            Phần đúng của câu trên phản ánh một thực tế:  SGK (sách giáo khoa tiếng Việt) trường phổ thông đã cung cấp cho học sinh quá nhiều kiến thức tiếng Việt không cần thiết. Điều này xuất phát từ  quan niệm đã là SGK   cần giải thích  được tất cả những  hiện tượng ngữ pháp tiếng Việt. Hệ quả là các nhà viết SGK luôn luôn tìm cách đưa vào  sách một loạt  khái niệm nhằm giải thích  được càng nhiều càng tốt  những hiện tượng tiếng Việt. Mà những hiện tượng trên bề mặt ngôn từ lại vô cùng phong phú và phức tạp. Thế là sinh rối, sinh ra những “phong ba bão táp” trong hệ thống khái niệm ngữ pháp… Điều này  dẫn tới một toan tính  khác: có người cho rằng ngữ pháp lâu nay chúng ta dạy trong nhà trường (được gọi là ngữ pháp chủ vị - một câu  có hai phần chủ ngữ  và vị ngữ) là thứ ngữ pháp không thích hợp,  cần được thay bằng ngữ pháp chức năng , còn gọi là ngữ pháp đề  thuyết - một câu  có hai phần đề ngữ  và  thuyết ngữ.&lt;br /&gt;Thực ra thời trước,  những người viết SGK  chưa có nhiều kiến thức ngôn ngữ học “uyên bác” như các tác giả SGK thời nay và nhà trường vẫn dạy thứ ngữ pháp chủ vị và  chỉ là những kiến thức tiếng Việt tối thiểu. Ấy thế nhưng  chỉ cần học xong trung học, thậm chí tiểu học, đa số  đều viết đúng. Như vậy, không phải cứ học nhiều lý thuyết ngữ pháp là viết đúng, viết tốt.&lt;br /&gt;Một nông dân mù chữ nhưng vẫn hiểu và dùng thuần thục   những lời nói xa xôi, bóng gió, cạnh khóe, mỉa mai, những lời “mát nước thối đá”. Đã là người Việt, sinh ra và lớn lên trên đất Việt, thì ai cũng có năng lực bẩm sinh  tiếng Việt, nói năng thành thạo  tiếng Việt. Có điều, nói và viết là hai chuyện khác nhau.  Chỉ có học, trước hết là những kiến thức tiếng Việt cơ bản,  mới viết đúng,  viết tốt được. Nếu như SGK chỉ cần cung cấp những kiến thức tinh – cơ  bản, tối thiểu – thì    học sinh lại cần được rèn luyện cách học  tinh – hiểu  chính xác từng  chữ, từng từ, từng khái niệm đã học. Hình như xã hội  chúng ta đang mất dần thói quen tiếp nhận và sử dụng  chính xác ngôn từ.  Chẳng  thế mà nhiều báo cáo, nhiều nghị quyết, nhiều bài diễn giảng  năm sau cũng tựa như năm trước.  Chẳng  thế mà đề thi Tả cảnh trường em sau buổi học rất rõ ràng lại bị   không ít  học sinh, phụ huynh thậm chí cả  giáo viên  cho là “không rõ ràng, quá mông lung và gây hiểu lầm” (TT, 19.5). Sau buổi học khác trước buổi học. Còn buổi học khác tiết học. Sao có thể là không rõ ràng và gây hiểu lầm được?  Không có thói quen  dùng  chính xác  ngôn từ thì  làm  sao thấy được cái hay của tiếng Việt?&lt;br /&gt; Cái hay và đặc sắc của ngữ pháp tiếng Việt là ở  những  từ hư (empty words) – những từ không có có nghĩa từ vựng. Hãy đặt từ hư trong ngữ pháp giao tiếp, nhiều hiện tượng “phong ba bão táp” của ngữ pháp tiếng Việt sẽ trở nên sáng sủa.   Chúng ta minh họa qua  4 câu đơn giản.&lt;br /&gt;Con học tiếng Anh.&lt;br /&gt;Con học tiếng Anh đã.&lt;br /&gt;Con học tiếng Anh cơ.&lt;br /&gt;Con học tiếng Anh chứ bộ.&lt;br /&gt;Cả ngữ pháp chủ vị lẫn ngữ pháp đề thuyết đều cho 4 câu này đồng nhất nhau về cấu trúc: con là chủ ngữ (hoặc đề ngữ), phần còn lại là vị ngữ (hoặc thuyết ngữ). Tuy nhiên,  cả hai ngữ pháp này đều không chỉ ra được cách  dùng  và  ý nghĩa của chúng  hoàn toàn khác nhau.&lt;br /&gt;Khi nghe bố khuyên “Con nên học tiếng Pháp” người con chỉ có thể dùng câu c, chứ không phải 3 câu còn lại,  để từ chối đồng thời đưa ra một đề nghị khác là học tiếng Anh. Nói cách khác, từ cơ  (/kia) đặt cuối một câu tường thuật P dẫn tới một hành vi từ chối  một lời đề nghị, khuyên bảo hay yêu cầu trước đó,  đồng thời là hành vi đưa ra  lời đề nghị  P của mình.&lt;br /&gt;Khi nghe mẹ rầy la “Sao con suốt ngày chơi game vậy!”, người con chỉ có thể dùng câu d, chứ không phải 3 câu còn lại,  để bác bỏ lời phê phán, rầy la này. Nói cách khác, từ chứ bộ  (/đấy chứ) đặt cuối một câu tường thuật P dẫn tới  hành vi đưa ra chứng cứ P nhằm  bác bỏ lời phê bình  trước đó.  &lt;br /&gt;Đó là một ví dụ về ngữ pháp giao tiếp  tiếng Việt – ngữ pháp của các hành vi ngôn ngữ (speech acts).  Mấy từ  hư đã, cơ, chứ bộ … đặt cuối câu tường thuật làm  nên nét  đặc sắc của ngữ pháp tiếng Việt là như thế.  Lồng ngữ pháp giao tiếp vào quá trình dạy ngữ pháp chủ vị là cách gắn liền tiếng Việt với đời sống một cách sinh động.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-5436163577964440198?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/5436163577964440198/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/06/phong-ba-bao-tap-co-bang-ngu-phap-viet.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/5436163577964440198'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/5436163577964440198'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/06/phong-ba-bao-tap-co-bang-ngu-phap-viet.html' title='Phong ba bão táp có bằng ngữ pháp Việt Nam?*)'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-5528640618611209634</id><published>2011-06-17T18:57:00.000-07:00</published><updated>2011-06-17T19:02:46.198-07:00</updated><title type='text'>Tản mạn về tít báo</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Tản mạn về tít báo&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;        Bốn chặng đọc một bài báo: Ảnh – tít – sapô – nội dung&lt;br /&gt;        Khi đọc lướt bài báo, đầu tiên bạn nhìn ảnh rồi mới đọc tít xem bài  có thú vị không.  Kế đến đọc sapô  xem bài viết về chuyện gì. Thấy hay mới đọc  nội dung, còn không sẽ bỏ qua  sang bài khác. Nếu bài báo không có ảnh minh họa, lại chưa đủ dài và đủ tầm cần có sa pô, thì gánh nặng lôi kéo độc giả dồn cả vào tít báo. Ấy thế là tít báo thành tấm áp phích quảng cáo  bài báo. Nó cần bắt mắt để kích thích và  kéo bạn đọc đi đến chặng cuối của bài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Tít hay&lt;br /&gt;Làm  thế nào để có một tít bắt mắt? Ngoài yếu tố hình thức như co chữ, màu chữ, không gian của tít thì  câu chữ là yếu tố quyết định.  Những từ ngữ lạ, những kết hợp bất ngờ  sẽ kích thích  hứng thú độc giả. &lt;br /&gt;Tục ngữ, thành ngữ và những bài hát,  nổi tiếng…là những lời quen thuộc. Mỗi câu gắn với một nghĩa, một tình huống xác định. Tít có câu chữ gần giống như vậy nhưng  nghĩa lại  khác là tạo ra một bất ngờ thú vị với người đọc. Đó là những tít hay.  Trong   “Nghìn lẻ một đêm” của các dân tộc Ả Rập có  lời quen thuộc  “Vừng ơi mở cửa ra”.   Đề cập chuyện  xuất khẩu sang thị trường Trung Đông có báo đặt tít “Vừng ơi” cửa đã mở để gợi tò mò tìm đọc. Thế là  hay. Trong kiểu  tít này, có “Những công thự ẩn mình chờ chết” (  Những con chim ẩn mình chờ chết); Nhà trọ bình dân sống chết mặc bay (  Sống chết mặc bay). Theo khuôn mẫu  của Phạm Duy Tốn, tít đặt  câu hỏi trách nhiệm cho những người  quản lý thành phố.&lt;br /&gt;     Ẩn dụ, óc tưởng tượng và  sự liên tưởng dễ dùng những lời quen thuộc rút tít. Quay vòng vốn và lưu thông tiền tệ là dòng chảy tiền tệ. Ấy thế là có Chảy đi … kiều hối (¬ Chảy đi sông ơi!). Hội nhập với thế giới  nảy nỗi lo hàng hóa thiên hạ đổ vào lấn át hàng Việt Nam, nên có tít “Lo ‘một cuộc xâm lăng’ mới”. Trước là phi công chiến đấu chống Mỹ, nay  vẫn tiếp tục công việc của mình, nên có tít  “Nguyễn Thành Trung- cánh chim không mỏi”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tít vừa đúng theo nghĩa đen vừa hợp nghĩa bóng là tít hay.   Thợ leo trẻ – một đời …  lơ lửng! là một tít  hấp dẫn vì từ lơ lửng  đúng  nghĩa đen, còn  theo nghĩa bóng, người đọc  liên tưởng tới số phận bấp bênh của thợ cắt tỉa cây xanh trong thành phố. &lt;br /&gt;Tít “xin lỗi” cũng phải họp!  mơ hồ. Mối quan hệ giữa một chuyện nhỏ xin lỗi và chuyện không nhỏ họp hành đã kích thích trí tò mò của người đọc.&lt;br /&gt;    Chơi chữ hợp lý sẽ tạo ra những tít hay.  Chú ý tới đặc điểm người  Việt  thích nói vần,  nói lái để tạo ra những tít hay: Cầu Dần Xây “xây” dần đến bao giờ?;  Đừng để cổ vật thành … khổ vật; “Tượng đài Hà Nội: nặn bụt hay nặn …bệ?”… Không ít người “thủ đô” nói ngọng và một trận mưa lớn Hà Nội lại bị lụt. Vậy là: Hai trăm triệu đô la, Hà Nội vẫn là … HÀ LỘI.&lt;br /&gt;Dấu câu cũng là một công cụ tạo ra những tít hay. Yêu cầu đóng  góp theo định mức núp dưới mỹ từ tự nguyện  liền bị phê phán  Tự nguyện đóng góp theo… định mức (?!).  Chỉ với dấu hỏi và dấu than đứng trong ngoặc đơn, người viết dùng dấu hỏi  thể hiện sự nghi ngờ và dấu than làm  lời bình luận phê phán, không đồng tình.&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;        Tít không hay&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không hay là những tít sai, dư, không phản ánh được nội dung của bài. &lt;br /&gt;Không hay là những tít  kích thích độc giả bằng thứ ngôn từ cường điệu rẻ tiền hoặc khai thác những dục vọng thấp kém.&lt;br /&gt;Khi đặt tít, nên chú ý ai là độc giả của bài. Tít hay còn liên quan đến độc giả. Một tít có thể hay với nhóm độc giả này nhưng lại khó hiểu với nhóm độc giả khác, hay với thế hệ này nhưng lại không còn hay với thế hệ khác. &lt;br /&gt;Những liên tưởng quá xa vời sẽ tạo ra những tít báo khó hiểu. Đọc tít Gavơrốt không muốn về nhà, mấy ai hình dung nổi chú bé Gavơrốt trong Những người khốn khổ thành trẻ em lang thang trên đường phố?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        Cùng là chơi chữ,  những  kiểu  chơi chữ thường gặp thì độc giả bình dân hiểu nên thích.   Nhiều người thích tít  “Cà phê vidéo: vô đi! Ê” vì  vidéo dễ nói lái thành một từ bình dân lại là lời mời gọi ỡm ờ rất hình tượng:  vô đi! Ê.  Với tít bàn về những bảng hiệu bát nháo “Hà Nội biển hiệu  và biểu hiện” những người có vốn  từ phong phú  mới thấy hay, rất hay.&lt;br /&gt;        Có lẽ nhiều người hiểu Bên A là chùm khế ngọt? là tít viết về những vụ ký hợp đồng  rút ruột nhà nước vì bài hát Quê hương cách nay chưa xa có câu quê hương là chùm khế ngọt. Với những ai đã từng hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo sẽ rất thích tít  Bom Bo còn có nhịp chày khuya?  Tít này chất vấn về trách nhiệm của những người lãnh đạo đối với đồng bào dân tộc một thời giã gạo nuôi quân. Nhưng với tuổi teen ít còn biết bài này thì tít đó chắc khó hiểu.&lt;br /&gt;       &lt;br /&gt;        Tít báo và người biên tập&lt;br /&gt;    Thêm bớt từ, thay đổi trật tự từ ngữ, người biên tập có thể làm  tít báo hay hơn, hấp dẫn hơn. Nhưng nếu chủ quan hoặc thiếu những hiểu biết thấu đáo về ngôn từ, hoặc với một dụng ý nào đó, người biên tập có thể làm  hỏng  một tít báo, làm  sai lạc ý của tác giả. Tôi từng là nạn nhân của kiểu biên tập này. Tôi gửi bài “Ngôn ngữ chat” tới báo S. với kết luận  “Có những từ ngữ chat  nghiêm chỉnh không  chỉ tồn tại trong thế giới online mà đang thâm nhập cả vào  đời sống hàng ngày, được nhiều người chấp nhận.  Xã hội   cũng đã dần "thích nghi" với chúng […] chúng ta có thể xác định được những từ ngữ chat thông dụng  cần được coi là những đơn vị của tiếng  Việt hiện nay và  tương lai để chính thức đưa vào từ điển tiếng Việt”. Nhưng tít bài này được biên tập lại thành  “Đưa ngôn ngữ chat vào từ điển tiếng Việt” (đăng  ngày 11.4.2011).  Hơn nữa, trong sapô lại còn nói đây là  là gợi ý của tôi.  Thế là từ ý bộ phận “có những từ ngữ chat  nghiêm chỉnh” trở thành tất cả ngôn ngữ chat đều có thể đưa vào từ điển!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: left; font-style: italic;"&gt;Nguyễn Đức Dân&lt;br /&gt;GS TS,  118/12 Trần Quang Diệu,&lt;br /&gt;Quận 3. Tp HCM,&lt;br /&gt;Đt: 0919 42 02 74&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-5528640618611209634?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/5528640618611209634/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/06/tan-man-ve-tit-bao.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/5528640618611209634'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/5528640618611209634'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/06/tan-man-ve-tit-bao.html' title='Tản mạn về tít báo'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-6648881177993583198</id><published>2011-06-17T18:56:00.000-07:00</published><updated>2011-06-17T18:57:37.764-07:00</updated><title type='text'>Plaza, tower… rồi gì nữa?*</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Plaza, tower… rồi gì nữa?*&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;                                                                                                        GS.TS.&lt;span style="font-style: italic; font-weight: bold;"&gt;Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Năm 1999 ở Thành phố Hồ Chí Minh xuất hiện Diamond Plaza. Sau đó  nhiều  cái “plaza” xuất hiện:  Windsor Plaza, Dolphin Plaza, Indochina Plaza, Era Royal Plaza…Và những tên “Tây” có cái đuôi center, tower, town, park, garden, land …rộ lên: Sheraton Saigon Hotel &amp;amp; Tower; HC – Saigon Tower;  Harbour View Tower, Cao ốc Indochina Park Tower; Sapphire Tower – Saigon Pearl; Saigon  Sky Garden; Happy House Garden;  Landmark  Tower; Hanoi Time Tower; Chelsea Park ; River Silk City; CityLand … Khoảng  70% dự án mới mang tên ngoại. (TT, 16.6.2011)&lt;br /&gt;Đứng trước hiện tượng tràn lan cao ốc ‘ngoại’, các cơ quan chức năng   cần can thiệp  như đã từng làm  với những hiện tượng biển hiệu và quảng cáo. Và những tổ chức xã hội  kiểu như “Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng các sản phẩm xây dựng”  cũng cần vào cuộc. Vào cuộc can thiệp theo thông lệ quốc tế  ngay từ lúc làm  giấy khai sinh cho những dự án hiện diện trên đất Việt. Nhưng nhập gia cũng phải tùy tục. Nhiều người người nhập quốc tịch Việt bèn dùng  tên Việt: Trần Thị Nhung (bóng chuyền); Đinh Hoàng La (bóng đá)... Cũng không ít người nước ngoài mang thêm tên Việt vì yêu mến Việt Nam: Một người Đức mê nhạc Trịnh Công Sơn  bèn lấy tên Trịnh Công Duy. Võ sư Trịnh Công Long không phải là người gốc Việt.&lt;br /&gt;Theo thông lệ quốc tế, cần phân biệt những  thương hiệu nước ngoài đích thực với  những vỏ ‘Tây’ nhưng ruột nội. &lt;br /&gt;“Sofitel Hà Nội”  nằm trong chuỗi khách sạn Sofitel của Pháp,  Hilton Opera Hà Nội thuộc  chuỗi khách sạn Hilton của Mỹ, khách sạn Daewoo  tại Hà Nội thuộc chuỗi khách sạn  của tập đoàn  Daewoo,  Keangnam Hanoi Tower …là tòa nhà 70 tầng gắn với tên tuổi của tập đoàn Hàn Quốc  Keangnam … Đặt tên khách sạn, công trình kiến trúc  … gắn liền với thương hiệu tập đoàn là một cách khẳng định chất lượng của khách sạn, của công trình  theo thương hiệu của mỗi tập đoàn.  Cách đặt tên này là một thông lệ quốc tế.  Một số khách sạn  Việt Nam được  đặt tên tiếng Anh nhằm  phục vụ  khách quốc tế, cho  người nước ngoài dễ nhớ là cần thiết. Métropole,  Caravelle,  Majestic…là những thương hiệu xứng đáng được tồn tại. &lt;br /&gt;Cái gốc của  hiện tượng nhiều công ty, nhiều trung tâm kinh doanh, xây dựng Việt Nam  không hề có phạm vi hoạt động  quốc tế  dùng tên nước ngoài, như  nhiều người đã từng lên án  là bệnh người Việt sính thương hiệu  nước ngoài,  phản ánh  tâm lý tự ti của người Việt.  Dường như cứ kèm tên  “Tây”  vào là ngỡ rằng chất lượng hàng hóa cao lên, chất lượng khách sạn, chất lượng căn hộ càng thêm “cao cấp”… Mác Vincom village Hanoi (khu công nghiệp Sài Đồng – Long Biên” oai hơn tên Làng Vincom  Hanoi.  Họ quên rằng chiếc áo không làm  nên thầy tu. Tên tiếng Anh không làm  nên chất lượng của công trình,  dự án hay thương hiệu… Tất nhiên, việc dùng tên công ty làm  tên dự án là điều không cấm.&lt;br /&gt;Có khuynh hướng  khá buồn cười  là “dịch thô” những khái niệm tiếng Việt  ra tiếng Anh hòng  hấp dẫn người dùng. Người Việt thích sống trong một  ngôi nhà hạnh phúc, thích những “sao”... Ấy thế là sinh ra cái tên  các  căn hộ Happy House Garden ( khu đô thị mới Việt Hưng, Hà Nội), Five Star (Long An). Xuất hiện Botanic Towers vì chúng ta đang quan tâm tới thành phố xanh.  Chủ đầu tư   khu đô thị ở một tỉnh,   xưa được coi là vùng đồng chiêm trũng  nay bèn  tự nâng cấp lên “thành phố”,  khu  River Silk City (Phủ Lý).   &lt;br /&gt;Có những công ty hạng trung  rặt Việt  đầu tư xây dựng  khu chung cư Chelsea Park (Nam Trung Yên, Hà Nội). Chelsea là thương hiệu của một đội bóng đá Anh nổi tiếng với ông chủ Nga Abramovich giàu có,  sao lại dùng làm một  thương hiệu xây dựng Việt nếu không  ngoài mục đích câu khách tiêu dùng?  Và tên ngoại nhưng vẫn hở ra ‘cái ruột’ nội: May 10 Plaza là của tập đoàn May 10  Hà Nội.&lt;br /&gt;Khi xác nhận   ‘giấy khai sinh’ cho dự án, nhà chức trách nên chú ý tới những đặc điểm tiếng Việt của những tên này. Dù là mang tên nước ngoài vẫn không cần giữ lại những City, Tower, Center.&lt;br /&gt;Chẳng hạn, nên  đổi Vincom City Towers (ở Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội) thành Tháp Vincom (gọn hơn Tòa  tháp Vincom), chỉ cần Tháp Tài chính Bitexco chứ đâu cần Bitexco Financial Tower. Có cần Cao ốc Saigon Finantial Center hay chỉ cần Trung tâm Tài chính Sài Gòn?&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-6648881177993583198?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/6648881177993583198/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/06/plaza-tower-roi-gi-nua.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6648881177993583198'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6648881177993583198'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/06/plaza-tower-roi-gi-nua.html' title='Plaza, tower… rồi gì nữa?*'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-5999152569477613652</id><published>2011-03-10T16:19:00.000-08:00</published><updated>2011-03-10T16:20:42.858-08:00</updated><title type='text'>viết  i hay viết y?</title><content type='html'>&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:donotoptimizeforbrowser/&gt;  &lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 14pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Chính tả tiếng Việt&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 18pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;: &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: center;" align="center"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 20pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;viết &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 22pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;i&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 20pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; hay viết &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 22pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;y&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 20pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;?&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Có một quy tắc bất thành văn về&lt;i style=""&gt; tính thẩm mỹ&lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;trong chữ Việt: &lt;i style=""&gt;hình chữ phải đẹp. &lt;/i&gt;Điều này dẫn tới &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;hiện tượng “phá rào” với quy định viết &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 15pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;i/y &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;hiện nay&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 14pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 18pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: right; font-style: italic;" align="right"&gt;&lt;span style="font-size: 14pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: right;" align="right"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 14pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Quy định ngày 30.11.1980 của Bộ Giáo Dục (viết tắt: QĐ) về chính tả liên quan đến hai chữ &lt;b style=""&gt;y &lt;/b&gt;và &lt;b style=""&gt;i&lt;/b&gt; như sau: “…trường hợp các âm tiết có nguyên âm &lt;b style=""&gt;i&lt;/b&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;ở cuối thì viết thống nhất bằng &lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;i&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; , trừ &lt;b style=""&gt;uy&lt;/b&gt; , như &lt;i style=""&gt;duy, tuy, quy&lt;/i&gt;…; thí dụ : &lt;i style=""&gt;kì dị, lí trí, mĩ vị.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Chú ý: &lt;b style=""&gt;i&lt;/b&gt; hoặc &lt;b style=""&gt;y&lt;/b&gt; đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn viết theo &lt;i style=""&gt;thói quen cũ, &lt;/i&gt;thí dụ: &lt;i style=""&gt;ý nghĩa; y tế, ỉ eo, ầm ĩ, im, yêu.&lt;/i&gt;”&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Hiện nay có những &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;ý kiến trái chiều với QĐ này.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin: 0in -0.25in 0.0001pt 0in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;1.&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Chữ viết là qui ước&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyTextIndent" style="margin-left: 0in; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Chữ viết là quy ước nên chuẩn mực chính tả cũng là quy ước. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Chữ Việt là loại chữ viết &lt;i style=""&gt;ghi âm. &lt;/i&gt;Khi&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;ta nói, mỗi tiếng là một &lt;i style=""&gt;âm tiết. &lt;/i&gt;Mỗi âm tiết&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;gồm có ba bộ phận:&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;b style=""&gt;âm đầu&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;–&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;vần – thanh điệu&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="color: black;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Mỗi vần lại chứa các thành phần nhỏ hơn:&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;b style=""&gt;Vần = &lt;i style=""&gt;âm đệm&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;– âm chính – âm cuối &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Như vậy, &lt;i style=""&gt;âm đầu, vần (âm đệm&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;, âm chính , âm cuối), thanh điệu &lt;/i&gt;là những&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;yếu tố có liên quan đến chuẩn mực chính tả. &lt;i style=""&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;Mỗi phương ngữ thường phát âm chuẩn ở bộ phận này của âm tiết nhưng lại phát âm sai ở một bộ phận khác. Không có địa phương nào phát âm hoàn hảo&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;cả. Ví dụ về phân tích&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;âm tiết: &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style=""&gt;           &lt;/span&gt;(1) &lt;i style=""&gt;nguyên = ng-u-yê-n; khuya = kh-u-ya&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;(2) &lt;i style=""&gt;quy = qu-y- ; quân = qu-â-n&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;(3) &lt;i style=""&gt;tay = t-a-y ; tai= t-a-i ; mấy= m-â-y (+thanh sắc) ; mới = m-ơ-i (+ thanh sắc&lt;/i&gt;)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;(4) &lt;i style=""&gt;yến = yê-n + &lt;/i&gt;(&lt;i style=""&gt;thanh sắc&lt;/i&gt;)&lt;i style=""&gt; ; uyển&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;= u-yê-n (+ thanh hỏi)&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;(5) &lt;i style=""&gt;thúy= th-u-y +(thanh sắc); thúi = th-u-i +(thanh sắc)&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;(5) &lt;i style=""&gt;oxy = (o) &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;x-y ; hy (dro) = h-y (dro)&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin: 6pt -0.25in 0.0001pt 0.5in; text-indent: -0.25in;"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;2.&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Những điều còn bỏ qua &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;- QĐ trên không chú ý tới &lt;i style=""&gt;thói quen &lt;/i&gt;khi viết âm tiết có &lt;i style=""&gt;bán nguyên âm &lt;/i&gt;đứng cuối&lt;i style=""&gt; &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;được ghi bằng &lt;b style=""&gt;y &lt;/b&gt;hoặc &lt;b style=""&gt;i&lt;/b&gt;. (Các ví dụ &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;3) So sánh &lt;i style=""&gt;tay/tai, hay/hai. &lt;/i&gt;Cùng một nguyên âm, có &lt;b style=""&gt;i&lt;/b&gt; đứng cuối thì sẽ đọc &lt;i style=""&gt;dài ra, &lt;/i&gt;có &lt;b style=""&gt;y &lt;/b&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;đứng cuối thì đọc &lt;i style=""&gt;ngắn đi. &lt;/i&gt;Lúc này nguyên âm &lt;b style=""&gt;a &lt;/b&gt;thể hiện âm vị /ă/ nên không ít học sinh mắc lỗi viết &lt;i style=""&gt;tăy, hăy. &lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin: 0in -0.25in 0.0001pt 0in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;-&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Không nói tới công dụng của &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;b style=""&gt;y &lt;/b&gt;hay&lt;b style=""&gt; i &lt;/b&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;đứng cuối âm tiết để phân biệt hai vần &lt;b style=""&gt;uy/ui&lt;/b&gt;: Ví dụ 5” “&lt;i style=""&gt;Thuý&lt;/i&gt;” khác với “&lt;i style=""&gt;thúi&lt;/i&gt;&lt;b style=""&gt;”,&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;“&lt;i style=""&gt;quý&lt;/i&gt;”&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;khác với “&lt;i style=""&gt;cúi&lt;/i&gt;”…&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;-&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Không đề cập tới quy tắc viết bằng &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;chữ &lt;b style=""&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;y&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; trong những trường hợp (1), (2), (4), (5):&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin: 0in -0.25in 0.0001pt 0.5in; text-indent: -0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;+ (1): Viết &lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;yê, ya &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i style=""&gt;khi nguyên âm đôi này đứng sau âm đệm /w&lt;/i&gt;&lt;b style=""&gt;/&lt;/b&gt; : &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;Nguyễn Khuyến; đêm khuya; &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;+ (2): Viết &lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;y &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i style=""&gt;sau &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;chữ &lt;b style=""&gt;qu~ &lt;/b&gt;&lt;/i&gt;(bán nguyên âm u đứng sau /&lt;b style=""&gt;k&lt;/b&gt;/):&lt;b style=""&gt; &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;quy luật; quy ước; quyền &lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;lực; quyết định; …&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin: 0in -0.25in 0.0001pt 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;+ (4): Viết &lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;yê&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i style=""&gt;khi &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;âm tiết vắng phụ âm đầu và là nguyên âm &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;đôi /ie/&lt;/i&gt;: &lt;i style=""&gt;yến, yểm trợ, yêng &lt;span style=""&gt;      &lt;/span&gt;hùng, niêm yết, uyển chuyển, yên tâm…&lt;/i&gt;Như vậy, viết &lt;i style=""&gt;yêu&lt;/i&gt; không phải là “&lt;i style=""&gt;viết theo thói quen cũ” &lt;/i&gt;như nhận định trong QĐ. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;+&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;(5): Dù đứng một mình hay đứng cuối trong các từ &lt;i style=""&gt;phiên âm&lt;/i&gt; thì &lt;i style=""&gt;gốc sao phải viết vậy: &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;dao &lt;i style=""&gt;i nốc ( inox &lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: Symbol;"&gt;&lt;span style=""&gt;¬&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; inoxydable – &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;không gỉ) &lt;i style=""&gt;, &lt;/i&gt;muối &lt;i style=""&gt;i ốt, …&lt;/i&gt;Nguyên âm /&lt;b style=""&gt;i/&lt;/b&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;đứng cuối nhưng vẫn phải viết là khí &lt;i style=""&gt;oxy, &lt;/i&gt;khí &lt;i style=""&gt;hy đrô.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;3. &lt;b style=""&gt;Những điều&lt;/b&gt; &lt;b style=""&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;chưa chuẩn &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style=""&gt;     &lt;/span&gt;QĐ trên không chú ý tới một quy tắc bất thành văn về&lt;i style=""&gt; &lt;b style=""&gt;tính thẩm mỹ&lt;/b&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;trong chữ quốc ngữ: &lt;i style=""&gt;hình chữ phải đẹp&lt;/i&gt;, nghĩa là có sự&lt;i style=""&gt; &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;cân đối&lt;/i&gt; &lt;i style=""&gt;về độ cao&lt;/i&gt; giữa các con chữ trong từ ngữ. Khái niệm này được hiểu như sau:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;- Ghép &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;những phụ âm cùng độ cao với /&lt;b style=""&gt;i/&lt;/b&gt; thì có khuynh hướng dùng &lt;b style=""&gt;i: &lt;/b&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Ví dụ: &lt;i style=""&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;si mê&lt;/i&gt; (/*&lt;i style=""&gt;sy mê -&lt;/i&gt; tức là: không viết &lt;i style=""&gt;sy mê&lt;/i&gt;); &lt;i style=""&gt;mị dân (/*mỵ dân); &lt;/i&gt;chim&lt;i style=""&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;ri (/*ry); rằn ri&lt;/i&gt; (/*&lt;i style=""&gt;ry&lt;/i&gt;); rên &lt;i style=""&gt;rỉ/ *rỷ; &lt;/i&gt;xanh &lt;i style=""&gt;rì/*rỳ&lt;/i&gt;;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;kẻ &lt;i style=""&gt;sĩ/*sỹ&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;vĩ&lt;i style=""&gt; mô; vi phạm; vì sao; vì vậy; vị trí&lt;/i&gt;;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Trong &lt;i style=""&gt;Gia Định Báo &lt;/i&gt;(GĐB)&lt;i style=""&gt;, &lt;/i&gt;viết “&lt;i style=""&gt;bán&lt;/i&gt; &lt;i style=""&gt;sỉ&lt;/i&gt;” (số 06.5.1882). Không thấy số nào viết &lt;i style=""&gt;bán sỷ. &lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;“Thói quen viết &lt;i style=""&gt;ỉ eo, ầm ĩ, im…&lt;/i&gt;” (QĐ) phản ánh quy tắc này.&lt;i style=""&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;- Khái niệm &lt;i style=""&gt;cân đối &lt;/i&gt;còn được hiểu là trong một từ nếu con chữ một phụ âm nhô cao lên thì ta viết &lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;y &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;nhằm tạo ra sự hài hòa &lt;i style=""&gt;trên dưới&lt;/i&gt;. &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Viết &lt;i style=""&gt;lý &lt;/i&gt;thì phần trên và phần dưới chữ này cân đối với nhau, còn viết &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;lí &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;thì phần dưới chữ này hơi bị hụt. Vì vậy trong báo &lt;i style=""&gt;Nông Cổ Mín Đàm &lt;/i&gt;(NCMĐ)&lt;i style=""&gt;, &lt;/i&gt;năm 1902&lt;i style=""&gt;, &lt;/i&gt;chúng ta gặp: &lt;i style=""&gt;Lý văn Ngọc; chánh lý&lt;/i&gt;; &lt;i style=""&gt;chưởng lý; mạng lý &lt;/i&gt;(11.01);&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;không lý vì bộ tướng vậm vỡ; có lý lắm &lt;/i&gt;(27.3); Cũng lý do&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;tương tự, trong GĐB&lt;i style=""&gt;, năm 1881, 1882 &lt;/i&gt;chúng ta gặp &lt;i style=""&gt;ký tên &lt;/i&gt;(26.12); &lt;i style=""&gt;thơ ký &lt;/i&gt;(12.02); &lt;i style=""&gt;trong kỳ 15 ngày &lt;/i&gt;(15.3)… trong NCMĐ&lt;i style=""&gt;, &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;năm 1902&lt;i style=""&gt;, &lt;/i&gt;chúng ta gặp&lt;i style=""&gt; xem kỹ &lt;/i&gt;(06.3)&lt;i style=""&gt;; ích kỹ&lt;/i&gt; (09.01; sai thanh hỏi); &lt;i style=""&gt;Nam-Kỳ; dầu thắng kỳ nhứt; anh lấy làm&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;kỳ &lt;/i&gt;(24.7); &lt;i style=""&gt;, chẳng kỳ lòng súng lớn nhỏ; cho kỷ càng &lt;/i&gt;(21.8; sai thanh ngã),… Chúng ta còn gặp &lt;i style=""&gt;thanh ny&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;hồi tục; mỹ danh, làng Bình-hy,…&lt;/i&gt;Cách viết &lt;i style=""&gt;Hoa Kỳ &lt;/i&gt;cũng nằm trong hệ thống trên. Trong những âm tiết vừa dẫn &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;không&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;gặp cách viết “trường hợp các âm tiết có nguyên âm &lt;b style=""&gt;i&lt;/b&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;ở cuối thì viết thống nhất bằng &lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;i&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i style=""&gt;”&lt;/i&gt;như QĐ. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.5in;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;- &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Còn “viết theo &lt;i style=""&gt;thói quen cũ, &lt;/i&gt;thí dụ: &lt;i style=""&gt;ý nghĩa; y tế..&lt;/i&gt;” (QĐ) &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;vẫn phản ánh luật cân đối trong chữ quốc ngữ: Dùng &lt;b style=""&gt;y &lt;/b&gt;trong &lt;i style=""&gt;ý nghĩa; y tế &lt;/i&gt;để có sự cân đối giữa hai tiếng trong một từ ghép. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;      &lt;/span&gt;- &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Trường hợp ngoại lệ “trừ &lt;b style=""&gt;uy&lt;/b&gt;, (thì viết y) như &lt;i style=""&gt;duy, tuy, quy&lt;/i&gt;…” (QĐ) thì báo thời đó lại viết ngược lại: Tất nhiên, không nói tới &lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;tui, dui &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;vì đã chuyển thành vần khác rồi. Trong NCMĐ&lt;i style=""&gt;, &lt;/i&gt;chúng ta gặp&lt;i style=""&gt; nhơn gian &lt;b style=""&gt;qui &lt;/b&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Sở Khanh, vinh &lt;b style=""&gt;qui, &lt;/b&gt;Lão – kị - &lt;b style=""&gt;qui &lt;/b&gt;–y &lt;/i&gt;(03.4.1902)&lt;i style=""&gt; &lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;      &lt;/span&gt;- Kích thước &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;con chữ cũng là một lý do thẩm mỹ: Chữ &lt;b style=""&gt;i&lt;/b&gt; có kích thước ngắn hơn chữ &lt;b style=""&gt;y&lt;/b&gt; tạo ra&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;ấn tượng là &lt;i style=""&gt;một đối tượng nhỏ&lt;/i&gt;. &lt;b style=""&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;Vậy nên có khuynh hướng dùng i ngắn cho những đối tượng tạo ra&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;ý niệm&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;nhỏ&lt;/i&gt;: Thường viết &lt;i style=""&gt;li ti, tỉ mỉ, vi tính; chi li, chi tiết; chơi bi, sân si, lí nhí; … &lt;/i&gt;Hình như không ai viết &lt;i style=""&gt;chơi by, tỷ mỷ; chy ly, chy tiết, vy tính…&lt;/i&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin: 0in -0.25in 0.0001pt 0in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;3.&lt;span style="font: 7pt &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;      &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Ngoại lệ: Có những thói quen ngôn ngữ không tìm được lí lẽ của nó&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;      &lt;/span&gt;Trong tiếng Pháp hiện nay có từ &lt;i style=""&gt;poids &lt;/i&gt;(trọng lượng). Thuở xưa, từ này được viết là &lt;i style=""&gt;pois.&lt;/i&gt; Tới thời Phục Hưng có người cho rằng nó do từ Latinh &lt;i style=""&gt;pondus &lt;/i&gt;mà thành, vậy phải thêm &lt;i style=""&gt;d&lt;/i&gt; vào sau chữ &lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;i &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;mới đúng. Thế là&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;người ta đổi &lt;i style=""&gt;pois &lt;/i&gt;thành &lt;i style=""&gt;poids. &lt;/i&gt;Về sau có người chứng minh được &lt;i style=""&gt;pois &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;chính do từ Latinh &lt;i style=""&gt;pensum &lt;/i&gt;(vật được cân xem nặng nhẹ thế nào) mà ra. Nhưng người Pháp đã quen dùng &lt;i style=""&gt;poids &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;mất rồi. Đâu có dễ dàng từ bỏ một thói quen. Vậy là &lt;i style=""&gt;poids &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt;      &lt;/span&gt;Trong tiếng Việt có những&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;biến thể trong cách viết i/y. Một từ &lt;i style=""&gt;mĩ &lt;/i&gt;là đẹp, mọi người quen &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;viết&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;nước Mỹ, châu Mỹ &lt;/i&gt;nhưng &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;lại viết&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;mĩ mãn&lt;/i&gt;. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Những biến thể như vậy gặp rất nhiều. Điều&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;đó&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;bình thường,&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;không có gì đáng tranh cãi.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin: 0in -0.25in 0.0001pt 0.25in;"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Lời kết&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin: 0in -0.25in 0.0001pt 0.25in;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Cách viết &lt;b style=""&gt;i/y&lt;/b&gt; trong QĐ không phù hợp với tâm lí người Việt và&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;thực tế tiếng Việt nên chúng ta &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;thường “vượt rào” hoặc mắc lỗi trước QĐ &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;này. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin: 0in -0.25in 0.0001pt 0.25in;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;Nên chấp nhận &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;những biến thể trong cách viết &lt;b style=""&gt;i&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; &lt;i style=""&gt;/y&lt;/i&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoBodyText" style="margin-right: -0.25in; text-indent: 0.25in;"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-5999152569477613652?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/5999152569477613652/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/03/viet-i-hay-viet-y.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/5999152569477613652'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/5999152569477613652'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/03/viet-i-hay-viet-y.html' title='viết  i hay viết y?'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-4295536365778652175</id><published>2011-03-01T08:38:00.000-08:00</published><updated>2011-03-01T08:39:03.812-08:00</updated><title type='text'>Một đại thụ ngôn ngữ học đã ra đi</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Một đại thụ ngôn ngữ học đã ra đi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;    Ngày 25/02/2011 tại Moskva (Nga), giáo sư Nguyễn Tài Cẩn – một đại thụ trong giới ngôn ngữ học Việt Nam  đã vĩnh viễn ra đi.&lt;br /&gt;Ông  sinh ngày 02/5/1926 tại làng Thượng Thọ, Thanh Chương, Nghệ An.&lt;br /&gt;Lúc nhỏ, ông tiếp thụ Hán học trong một gia đình Nho học, sau đó theo học các trường Quốc học Vinh và Quốc học Huế. Ông học rất giỏi, luôn luôn nhận học bổng toàn phần.&lt;br /&gt;Có lúc ông tâm sự thời học sinh, mình cũng mê làm thơ viết văn, mà là  viết bằng  tiếng Tây nữa kia. Một lần đến thăm thầy cũ Hoài Thanh, anh bộc bạch với thầy kỳ vọng ấy. Không ngờ thầy bảo: - Mình là dân An Nam, học tiếng Tây ở xứ "bảo hộ", làm sao có thể viết văn Tây hay bằng các ông Tây bà đầm  như  H. Balzac hay  G. Sand bên "chính quốc" được? Sau lần đó, anh Cẩn chuyên tâm học tiếng Việt hơn nhưng vẫn mê làm thơ. Một lần mang tập thơ mới sáng tác  tới thăm thầy cũ Đào Duy Anh với hy vọng nhận được lời khen. Nào ngờ thầy chỉ lơ đãng đọc lướt qua, rồi chậm rãi nói: “Làm thơ, nếu quả có tài năng thiên phú như Hồ Xuân Hương, Tú Xương hay Tản Đà... thì hãy làm! Chứ nếu không, làm cả nghìn bài, chưa chắc đã có một bài đứng được qua năm tháng! Nếu làm nhà nghiên cứu, thì chỉ cần thông minh, kiên trì, có phương pháp tốt, quan sát tốt, bền bỉ tích lũy, ‘năng nhặt chặt bị’  sẽ tới ngày có được những khám phá độc đáo, để lại cho đời. Cuộc đời cụ Đào Duy Anh là một tấm gương như vậy.&lt;br /&gt;Lời cụ Đào giúp anh Cẩn dứt khoát hướng cuộc đời vào ngành Việt ngữ học. &lt;br /&gt;    GS Nguyễn Tài Cẩn đã trở thành một đại thụ trong giới ngôn ngữ học Việt Nam với những công trình bất hủ, từ ngữ pháp tới ngữ âm, chữ nôm và cách đọc Hán-Việt:  Từ loại danh từ tiếng Việt (1975); Ngữ pháp tiếng Việt (1975, 1977, 1996); Nguồn gốc và sự hình thành cách đọc Hán Việt (1979, 2000); Ngữ âm lịch sử tiếng Việt (1995) và gần đây nhất là hai công trình mới liên tiếp khảo cứu về văn bản Truyện Kiều với những phát hiện rất độc đáo về tác giả và tác phẩm. &lt;br /&gt;    Năm 2000, GS Nguyễn Tài Cẩn  vinh dự được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về những công trình này. Cùng với GS Đào Duy Anh và GS Hoàng Xuân Hãn, GS Nguyễn Tài Cẩn là một trong ba nhà nghiên cứu Việt ngữ học (tính đến thời điểm này) được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;    GS Nguyễn Tài Cẩn có nhiều cái nhất.&lt;br /&gt;    Ông được Bộ Giáo dục cử làm chuyên gia Việt ngữ học đầu tiên của nước ta tại Liên Xô (Trường Đại học Tổng hợp Leningrad).&lt;br /&gt;    Năm 1960 ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ ngôn ngữ học tại Liên Xô.&lt;br /&gt;    Năm 1980 ông là người đầu tiên của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội  được Nhà nước phong học hàm Giáo sư ngôn ngữ học.&lt;br /&gt;    Ông đã đào tạo rất nhiều thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Việt ngữ học, Hán Nôm. Phương pháp và quan điểm nghiên cứu của ông được  hàng loạt nhà Việt ngữ học  tiếp nhận và phát triển. Không chỉ các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Trung Quốc, mà cả giới Đông phương học quốc tế cũng chú ý đến những công trình của GS Nguyễn Tài Cẩn, nhất là công trình về cách đọc Hán-Việt. &lt;br /&gt;    Kể số học trò nay trở thành  giáo sư, phó giáo sư  ngôn ngữ học thì ông có nhiều nhất. Ông có công lớn trong việc xây dựng chuyên ngành Ngôn ngữ học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ảnh hưởng của ông tới giới ngôn ngữ học Việt Nam lớn nhất, lớn đến nỗi những khuynh hướng nào ông không quan tâm hoặc không  thích thì khó mà phát triển.&lt;br /&gt;    Sách vở của ông được trích dẫn nhiều nhất. Nhiều giáo trình, chuyên khảo của ông  cho đến nay vẫn trở thành sách gối đầu giường cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh, các nhà nghiên cứu về Việt ngữ học, Hán Nôm và Ngữ văn Việt Nam.&lt;br /&gt;    GS Nguyễn Tài Cẩn  diễn giảng hay nhất. Ngôn ngữ học  là một lĩnh vực khô khan nhưng  giờ giảng của ông lại vô cùng hấp dẫn,  mê hoặc đến mức nhiều sinh viên vì nghe ông giảng mà chọn ngành ngôn ngữ học. Ông rất hóm. Chả thế mà trong trường  ĐHTH Hà Nội từng lưu truyền câu ‘râu Tu, cù Cẩn’ (GS Tu râu rậm, GS Cẩn có tài hài hước, chọc cười).  Không ai không biết giai thoại cười về ông liên quan đến GS vật lý Đàm Trung Đồn và GS khảo cổ Hà Văn Tấn.&lt;br /&gt;    GS Nguyễn Tài Cẩn là tấm gương của niềm đam mê lao động  như ngọn lửa không bao giờ tắt. Có lần ông tâm sự  có  thông minh  đến mấy mà không kiên nhẫn, không tìm được cho mình cái thú để mà theo đuổi thì không thể đi vào lĩnh vực này được. Nhưng khi đã vào được cái khu rừng đầy gai nhọn này, cũng có cái thú của nó. GS Phan Ngọc, đồng hương xứ nghệ của GS Nguyễn Tài Cẩn nhận xét: “ anh Nguyễn Tài Cẩn, và cả tôi nữa là do cần mẫn và đam mê mà tìm đến ngôn ngữ”. Không chỉ là một tấm gương lớn về tinh thần làm việc không mệt mỏi, GS Nguyễn Tài Cẩn còn là người thầy  tận tụy, hết lòng vì học trò. Ngọn lửa  ấy đã truyền lại cho nhiều thế hệ sinh viên.&lt;br /&gt;    GS. Nguyễn Tài Cẩn  niềm tự hào của giới ngôn ngữ học Việt Nam  đã đi xa để lại một khoảng trống. Chúng ta mất đi nhà Việt ngữ học, nhà Việt Nam học  tầm cỡ thế giới. Bao giờ mới lại xuất hiện một  GS Nguyễn Tài Cẩn mới?&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-4295536365778652175?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/4295536365778652175/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/03/mot-ai-thu-ngon-ngu-hoc-ra-i.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/4295536365778652175'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/4295536365778652175'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/03/mot-ai-thu-ngon-ngu-hoc-ra-i.html' title='Một đại thụ ngôn ngữ học đã ra đi'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-4281220640703662875</id><published>2011-02-20T19:17:00.000-08:00</published><updated>2011-02-20T19:20:28.942-08:00</updated><title type='text'>Nguyên nhân  viết sai: nhìn từ xã hội</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Nguyên nhân  viết sai:&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;nhìn từ xã hội  &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Những người quản lý, điều hành đất nước không có chính sách cụ thể&lt;br /&gt;bảo vệ tiếng Việt chuẩn mực  là nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng&lt;br /&gt;tiếng Việt tùy tiện, lộn xộn hiện nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì sao tình trạng dùng tiếng Việt lộn xộn, tùy tiện, bừa bãi hiện nay không hề thuyên giảm mà có chiều hướng gia tăng đáng sợ? Do nhà trường, do sách giáo khoa? Do Nhà nước? Do xã hội? Hay do chính chúng ta?&lt;br /&gt;    Có người viết rằng chúng ta đã hoàn toàn thất bại trong giảng dạy tiếng Việt do ‘sách ngữ pháp hoàn toàn thoát ly tiếng Việt’, do chúng ta dạy thứ tiếng Việt ‘không hề căn cứ vào một cái gì mà một người Việt có văn hóa phải biết cả’. Thậm chí ‘nhiều giáo sư văn học phải thốt lên: mong sao sau 12 năm học phổ thông con tôi vẫn còn nói và viết được  tiếng Việt như trước khi đi học’…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói và viết là hai chuyện khác nhau&lt;br /&gt;    Chúng ta thấy:&lt;br /&gt;- Trẻ em được sinh ra và lớn lên trong môi trường ngôn ngữ nào là tự chúng nói  thành thạo ngôn ngữ đó. Nhưng viết lại là chuyện khác. Không học thì không biết viết.  Những giấy tờ, thư từ do những người mới ‘thông mặt chữ’  viết ra thường còn xa  mới đạt chuẩn chữ nghĩa.&lt;br /&gt;-  Người biết ít nhất một ngoại ngữ, thường viết chuẩn hơn những người không biết ngoại ngữ. Ngôn ngữ là một công cụ diễn đạt, phản ánh  tư duy. Con người tư duy qua ngôn ngữ. Học được một ngoại ngữ là biết thêm được cấu trúc  của một ngôn ngữ, biết thêm một công cụ thể hiện  tư duy. Học sinh giỏi khoa học tự nhiên thường viết chuẩn mực hơn (không kể một  số rất ít  những học sinh yếu về khoa học tự nhiên nhưng có năng khiếu văn học). Như vậy, những người tư duy tốt thường viết chính xác. &lt;br /&gt;- Thời trước học sinh viết đúng hơn. Thế hệ trước, nói chung viết tốt hơn. Mà thời trước nào có  nhiều sách tham khảo về tiếng Việt như hiện nay. Trong công trình Từ điển về từ điển (1999), PGS Vũ Quang Hào cho chúng ta biết tới lúc ấy ở Việt Nam đã có 18 từ điển chính tả, 7 từ điển ngữ pháp, 23 từ điển thành ngữ, 10 từ điển tục ngữ, 8 từ điển đồng nghĩa, 6 từ điển trái nghĩa, 7 từ điển giáo khoa, 10 từ điển học sinh, 220 từ điển thuật ngữ, 48 từ điển tiếng Việt. Vậy không thể nói chúng ta thiếu sách vở tiếng Việt. Ai quan tâm tới cách dùng chuẩn mực tiếng Việt đều có thể dễ dàng tìm ra những quyển sách cần thiết.&lt;br /&gt;    Vậy thì, vì sao hiện nay xã hội  viết sai hơn thời trước và sai quá nhiều?  Câu trả lời có thể khác nhau, nhưng chắc chắn sách giáo khoa dở không phải là nguyên nhân duy nhất, thậm chí không phải là nguyên nhân chính.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Viết sai nhìn từ phía Nhà nước và công luận&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;    Thủ tướng  Phạm Văn Đồng là người nhiều tâm huyết với việc giữ gìn và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Ông có những bài nói rất hay,  gây được tiếng vang, tạo  được sự đồng tình và quan tâm của  giáo giới và giới cầm bút. Tuy nhiên, điều đó chưa đủ.&lt;br /&gt;    Kinh nghiệm nước ngoài&lt;br /&gt;     Không điếc nên sợ súng. Người nước ngoài, nhất là Pháp, Anh, Mỹ …rất sợ viết, nói những câu sai. Thời nay, vì có băng ghi âm nên không còn chuyện “khẩu thiệt vô bằng”. Họ lo một lời thất thố, một câu viết sai là có thể bị đem ra nhạo báng dù cả chục năm sau. Sau này nếu được làm chức to hoặc muốn ra tranh cử một ghế dân biểu… lỡ có một tay nhà báo nhiễu sự hoặc không nhiễu sự nào đó đem những hành vi thiếu văn hoá hoặc lời nói không chuẩn mực và thiếu trí tuệ trước đây của mình trương lên mặt báo thì cũng phiền. Sẽ mất vài điểm tín nhiệm trong các cuộc thăm dò dư luận. Công khai hoá dư luận kể cũng tốt. Sợ viết sai nên người Pháp thường xuyên  dùng từ điển khi viết lách. Quan chức càng cao càng thận trọng trong ngôn từ. Thôi thì viết có sách, có từ điển. &lt;br /&gt;    Có một giai thoại về phó tổng thống Mỹ Spiro Agnew dưới thời R. Nixon liên quan đến năng lực tiếng mẹ đẻ của ông này. Trong quyển Bình đẳng, Tự do và Cười phá lên (tiếng Pháp), M. và A. Guillois kể giai thoại: Có một phóng viên hỏi Spiro Agnew “Tại sao ngài lại ác cảm với cánh nhà báo như vậy?  Phải chăng họ hay xuyên tạc lời của ngài?”  Spiro Agnew   đáp: “Trái lại thì có. Họ cứ đưa nguyên xi những lời của tôi lên mặt báo mà không chịu biên tập lại gì cả.” Vậy đấy, đưa nguyên xi những lời của một quan chức lên mặt báo là một cách để xã hội  nhận ra chân tướng của người này.&lt;br /&gt;    Thường dân cũng cần giữ gìn ngôn từ. Một vận động viên thể thao thường bị coi là “võ biền” nhưng trước công chúng thì không được phép có những cử chỉ và lời nói thiếu văn hóa. Trong trận bán kết giải Wimbledon ngày 03.7.2009, đang trong lúc thi đấu Andy Murray bị trọng tài nhắc nhở vì có những lời nói ‘không thích hợp.’ (VTC 3)&lt;br /&gt;     Bên cạnh việc dùng dư luận  xã hội  người ta còn dùng hình thức chế tài với những người nói sai.&lt;br /&gt;    Chuyện viết đúng sai còn liên quan trực tiếp đến cuộc sống của bạn. Viết sai thì thì bị loại. “Nhiều thanh niên Nhật thất nghiệp vì viết sai chính tả” (TT,19.02.02). Trong chương trình “chiếc nón kì diệu”, ngày 12.6.04, có một ô 7 chữ.  Một thí sinh sau khi đoán được 6 chữ “TIEU   AO”, đã đoán đúng đó là chữ “tiểu xảo”, nhưng lại nói là “Tôi đoán chữ  S”. Là tiểu xảo chứ không phải là tiểu sảo! Thế là vuột mất cơ hội thắng lợi.      Theo một bộ luật mới đang được Bộ thông tin truyền thông Nga soạn thảo: “Các quan chức và chính trị gia Nga sẽ bị phạt nếu phát âm sai các từ hoặc sử dụng ngôn từ thô lỗ trong các bài trả lời phỏng vấn” Có điều, luật này khó thực hiện  vì “chưa có từ điển nào được dùng  làm chuẩn phát âm và khái niệm thế nào là “thô lỗ” cũng chưa được luật pháp qui định” (TT, 02.7.2009)&lt;br /&gt;    Kinh nghiệm Việt Nam thời xưa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Người Việt  cũng từng dùng dư luận xã hội  để trừng trị kẻ viết sai. Từ xưa xã hội Việt Nam đã không đồng tình với lối  dùng tiếng Việt tuỳ tiện, bừa bãi. Những người viết sai thường bị chê cười, phê phán. Trong Phụ san Văn Nghệ, số 5.1993, Nguyễn Đức Bính kể lại chuyện sau:&lt;br /&gt;Hồi đó báo chí bị kiểm soát rất gắt gao, khó lòng nói được những gì muốn nói. Nhân có một “cụ nghè” viết một bài công kích cộng sản. Ngô Tất Tố xem bài ấy, lấy làm giận lắm, bèn tìm cách sửa người ấy một mẻ. Sau khi tìm được một vài câu văn bất thông trong bài đó, Ngô tiên sinh liền viết một bài chỉ ra những chỗ văn dốt trong bài này rồi buộc tội “cụ nghè” âm mưu phá hoại quốc văn và bôi nhọ đạo Khổng. Ông ví “cụ nghè” như thầy đề trong truyện tiếu lâm sau: Viên tri huyện cử thầy đề đi tịch ký nhà một người bị án. Thầy đề, theo luật lệ, lập biên bản ghi tất cả những tài sản của nhà này. Còn lại một cái váy nâu đàn bà, thầy đề nghĩ mãi không biết ghi bằng  chữ gì. Cuối cùng thầy nảy ra một ý: cái váy nâu ở địa phương này người ta gọi là cái xống nâu. Thầy đoán rằng tại người ta đọc chệch chứ thật sự phải là cái sống lâu. Thầy đề bèn hạ bút đặt tên cho chiếc váy nâu là thọ nhất bức. Ngô tất Tố kết luận rằng học lực của cụ nghè cũng xấp xỉ học lực của thầy đề. Bài công kích cộng sản của “cụ nghè” làm sao có giá trị được nữa. Ngòi bút của Ngô Tất Tố đã không tha thứ cụ nghè-công kích-cộng sản  bị bắt quả tang xả rác ngôn từ  ra xã hội.&lt;br /&gt;    Thời nay&lt;br /&gt;    Từng có người định dùng chế tài để hạn chế nạn dùng sai tiếng Việt.  Theo tin từ Tuổi Trẻ, 28.12.2004, giám đốc  Điện lực Đà Nẵng Lê Thanh Minh  đã mạnh dạn ra quyết định phạt tiền thưởng những ai viết sai tiếng Việt. Không rõ quyết định này có được thực thi không. Nếu ở đâu cũng có  vài ba giám đốc như vậy,  hoặc lý tưởng hơn nữa nếu  người đứng đầu tỉnh với nhận thức xả ngôn từ bậy bạ, làm hỏng tiếng Việt  cũng là một hành vi chống lại cộng đồng,   dám ra quyết định xử phạt những ai “xả rác” ngôn từ  ra xã hội thì  nạn viết sai tiếng Việt chắc chắn sẽ giảm đi nhiều.&lt;br /&gt;     Không đưa tiêu chí ‘có khả năng dùng chuẩn mực tiếng Việt’ vào việc thi tuyển công chức, đề bạt  cán bộ nên viết sai không chút trọng lượng gì trên con đường quan  chức. Kết quả là  lời kêu gọi giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt của cố thủ tướng  Phạm Văn Đồng chỉ dừng lại ở lời kêu gọi. Trong thực tế hành động, các cơ quan công quyền không chú trọng tới tiếng Việt. Nhà nước cần có những chính sách thích đáng, cụ thể để hạn chế những người dùng không chuẩn mực tiếng Việt trong cơ quan công quyền.  Hãy đưa việc viết đúng tiếng Việt thành tiêu chí  tối thiểu trong việc xét tuyển công chức  và đề bạt cán bộ. Nếu viết sai tới một mức nào đó thì không tuyển làm  công chức nhà nước,  không  đề bạt lên chức vụ cao hơn…&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-4281220640703662875?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/4281220640703662875/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/02/nguyen-nhan-viet-sai-nhin-tu-xa-hoi.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/4281220640703662875'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/4281220640703662875'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/02/nguyen-nhan-viet-sai-nhin-tu-xa-hoi.html' title='Nguyên nhân  viết sai: nhìn từ xã hội'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-2905365654574597317</id><published>2011-01-17T02:32:00.000-08:00</published><updated>2011-01-17T02:40:48.943-08:00</updated><title type='text'>Những từ thời thượng</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Những từ thời thượng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right; font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Xã hội luôn luôn vận động,  xuất hiện  những khái niệm mới, nổi lên những vấn đề mới là trung tâm chú ý của dư luận. Do vậy hàng loạt từ mới xuất hiện. Có những từ mang hơi thở của thời cuộc.&lt;br /&gt; Tâm lý chuộng lạ và khuynh hướng làm  sang  trí  tuệ&lt;br /&gt;    Trong giao tiếp, lời nói có vai trò quan trọng, mỗi người đều có nhu cầu  ‘học ăn học nói’… Ngôn ngữ là một phương tiện thể hiện phẩm chất trí tuệ con người. Muốn khẳng định mình qua ngôn từ không ít người thích dùng những từ mới lạ để ít nhất cũng không thua kém người khác.   Bởi vậy  không tránh khỏi  những khuynh hướng lạm dụng từ ngữ mới. Bắt đầu có  từ được dùng theo cách rất lạ. Người khác thấy hay, thấy ngồ ngộ, mới lạ bèn đua nhau dùng theo, đua nhau “trưng diện” từ này trong lời nói và bài viết. Họ sử dụng chúng  như là những “mốt” nói mới nhằm tô điểm cho trí tuệ.&lt;br /&gt;    Cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước, ở Liên Xô (cũ) trên các phương tiện truyền thông  đầy rẫy  và ra rả  từ perestrojka (sự cải tổ).  Tiếp đó danh từ “pljuralism” (chủ nghĩa đa nguyên), một danh từ mới  nhập từ tiếng Anh (pluralism), tiếng Pháp (pluralisme) thời cải tổ,  xuất hiện  rất nhiều. Chứng cứ cho điều này là  trong quyển  Từ điển tiếng nga  nổi tiếng, bản in năm 1982, của S.I. Ozhegov hoặc trong Từ điển cấu tạo từ tiếng Nga, xuất bản  năm 1978  của A.N. Tikhonov đều còn chưa có danh từ pljuralism.&lt;br /&gt;    Sau Đại hội IV của Đảng cộng sản Việt Nam, xuất hiện cụm từ “làm chủ tập thể”. Từng có  lúc , trên các trang báo nhan nhản những  “làm chủ tập thể”. Sau Đại hội VI, “làm chủ tập thể” được dùng ít dần đi;  thay vào đó là “đổi mới tư duy” và ‘những việc cần làm  ngay’. Ở thập kỷ 70 nếu trong bài viết hoặc đăng đàn diễn giảng  ai không nói làm chủ tập thể là “trình độ lý luận còn thấp”. Nửa cuối thập kỷ 80,  ở đâu cũng “đổi mới tư duy”. Không nhắc tới cụm từ này là người ta chưa yên tâm, chưa chứng tỏ mình nhạy bén và có năng lực. Bàn về những điều đã thành chuẩn mực  cũng cứ cần có chữ đổi mới tư duy.&lt;br /&gt;    Nhiều kết hợp lạ là những đặc sản xã hội,   gây bất ngờ trong nhận thức và nhanh chóng thành cụm từ mới lạ. Chẳng hạn, từ “khiêm tốn” biểu thị   thái độ  con người. Có ai đó dùng nó để biểu thị thuộc tính. NQT viết trên báo PN “Tôi là một người có chiều cao hơi khiêm tốn”. Thấy một kết hợp lạ hay hay. Ấy thế là thành ra cái mốt “khiêm tốn”: “đồng lương khiêm tốn”, “bộ quần áo khiêm tốn”, “ngôi nhà khiêm tốn”; số con cháu tôi cũng ‘khiêm tốn”, chỉ  20 đứa…Trong chuyện thường ngày trên TT, ngày 24.9.98 Bút Bi viết:    Nhớ hồi quận 3 bắt đầu dọn dẹp bia ôm, con đường kề bên uỷ ban quận này chỉ có một “nhà hàng đặc sản”. Bây giờ con đường này có vô số nhà hàng đặc sản karaoke máy lạnh, tha hồ cho các đấng mày râu đến dự thi … “bàn tay vàng”.  Đọc đến đoạn này, sinh viên trường V cười nghiêng ngả. Tôi nghĩ  đó là ngày sinh chính thức trên báo chí của “bàn tay vàng”.  (Ai biết nó sinh sớm hơn xin chỉ giùm!). Lập tức sau đó trên các trang báo thành phố rộ lên cụm từ châm biếm “bàn tay vàng”.&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;    Xã hội luôn luôn có khuynh hướng vay mượn từ nước ngoài, mặc dù vẫn có những từ ngữ đồng nghĩa. Vay mượn  phần vì khuynh hướng chuộng lạ, có yếu tố  kích thích, bắt mắt,  nhưng còn vì những từ ngữ  vay mượn này phản ánh được những sắc thái mới. Trong tiếng Nga đã có từ korennoj (thuộc về gốc rễ, nền tảng) nhưng tiếng Nga vẫn nhập từ radical của tiếng Anh và Pháp để thành  tính từ radical’nyj đồng nghĩa với korennoj. Và  radical’nyj  còn  thêm nghĩa cấp tiến mà  korennoj  không có.&lt;br /&gt;Người Việt cũng vậy. Báo chí Thành phố HCM  thời nay dẫn đầu cả nước khuynh hướng “Anh hóa” nhiều từ vay mượn đã được phiên âm. Chúng ta đã từng phiên âm  an-bom ( “-Anh ngồi đây, xem quyển an-bom này mà chờ tôi” (Vũ Trọng Phụng, Số đỏ); chạy sô, sô diễn,  sôlô (“Vẫn múa, em tham gia hầu hết các điệu múa và nhiều tiết mục em chọn sôlô hoặc đuy-ô từng đoạn” (NDCN, 04/10/1990)), đăng-xinh, xì-tốp …(“Bỗng Maika la lên: -Xì-tốp! Dừng, mình lại xem trên cây cầu này có chuyện gì mà con người bu đông như con kiến” (TT Cười, 6/1991).  Hiện nay người ta thích dùng nguyên ngữ album, solo,  show,  live show, stop, dancing. Thậm chí “Anh hóa” cả các từ vay mượn đã được Việt hóa: Nói hàng giảm giá, hạ giá… nghe “giảm giá trị” đi. Nói bán xôn, bán xon ( mượn  tiếng Pháp solde) cũng xưa rồi. Phải là  sale, on sale, sale off  mới sang và sành điệu!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáo ngữ: những lối mòn&lt;br /&gt;     Cái gì quá lạm dụng rồi  cũng trở thành bình thường,  nhiều quá hóa nhàm, và kết quả là lượng thông tin của từ bị giảm đi, nghĩa bị mòn đi. Những  từ mới lạ trở thành  sáo ngữ.  Khi trung tâm chú ý của xã hội thay đổi thì sáo ngữ cũng nhanh chóng thay đổi. Rồi  những từ ngữ mới khác lại xuất hiện.  &lt;br /&gt;     Cùng thời với “đổi mới tư duy”, trong đường lối hoạch định chính sách  rộ lên những từ kinh tế vĩ mô, vi mô; hộp đen,  đầu vào, đầu ra, … Không hiểu bản chất của một khái niệm nhưng thấy thiên hạ dùng nhiều thì cũng cố mà dùng cho cỏ vẻ “trình độ”, “thức thời”. “Nói như lời  ông Trần Đình Hoan  là […] không còn qui hoạch cán bộ theo kiểu “chiếc hộp đen” như trước nữa mà thay bằng “sân chơi bình đẳng”.[…] Ai đá hay thì đoạt quả bóng vàng chứ không chấm trước ai chắc chắn  sẽ làm bí thư tỉnh uỷ hay bộ trưởng cả” (TTCN, 01.6.03)   GS Hoàng Tuỵ  đã phê phán  sự lạm dụng từ ngữ này. Từ hộp đen trên báo chí  ít hẳn đi,  nó được  trả lại đúng vị trí trong những bài viết về lí thuyết thông tin.&lt;br /&gt;     Lớp từ thời thượng sau Đại hội VII  là kinh tế thị trường, kinh tế trang trại , cổ phần hoá… rồi những  phần mềm, internet, thị trường chứng khoán, nền kinh tế tri thức … Những từ này nay  trở thành bình thường. Mặc dầu từ điện tử đã xuất hiện từ lâu, nhưng  từ năm 2002, mới nở rộ lên những “chính phủ điện tử”, “Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn điện tử”, “công dân điện tử”   với một “thẻ căn cước  thông minh”,  “cử tri điện tử” rồi Nghị viện điện tử cho toàn cầu, Quốc hội điện tử...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mấy từ thời thượng hiện thời&lt;br /&gt;    Hiện nay buôn bán phát triển nên “thương hiệu” trở thành  mốt. Cái gì cũng “thương hiệu”. Từ này đang bị lạm dụng, đang lan sang nhiều ngành mà ở đó không có chuyện  kinh doanh buôn bán gì cả: “Bà đã giúp làm tăng thương hiệu Sarkozy”; ông đã làm  nên một  ‘thương hiệu Putin”. Những  chính khách, những nguyên thủ quốc gia có buôn bán gì đâu (ngoại trừ buôn bán chính trị) mà thương hiệu? Trở thành những con người nổi tiếng, sao không nói  “làm tăng tên tuổi Sarkozy”, làm  nên  ‘tên tuổi Putin”?  Trong lĩnh vực giáo dục cũng vậy. Người ta quyết tâm  “xây dựng thương hiệu ‘Khoa Báo chí và Truyền thông’, “xây dựng thương hiệu trường  chuyên X”... Nhà trường, sao  phải xây dựng thương hiệu mà không là xây dựng học hiệu? Không rõ thiên hạ có dùng thương hiệu Havard, Oxford,  Cambridge không?  Người  Việt  sao thích thương hiệu quá vậy?&lt;br /&gt;     Gần đây nhất là những từ tầm nhìn, tái cơ cấu... Người ta hoạch định những đề án, những công trình, những chiến lược với  tầm nhìn  30 năm, 40 năm,…Phải có tầm nhìn 50 năm để làm  đường sắt cao tốc.  Rồi sách “Việt Nam tầm nhìn 2050”. Tầm nhìn nào cho khu đô thị Trung Yên Hà Nội mới xây hiện đại kiểu Pháp, sau trận mưa lớn (2008) đã biến thành sông hồ? Tầm nhìn nào cho những công trình giao thông vừa bàn giao đã xuất hiện nhiều chục “hố tử thần”?&lt;br /&gt;    Chúng ta đang tái cơ cấu Vinashin. Nay mai liệu có ‘tái cơ cấu EVN’ khi Tập đoàn điện lực Việt Nam đang đứng ở “chân tường” (TT, 11.01.2011)? Và còn tái cơ cấu  những gì nữa?&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-2905365654574597317?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/2905365654574597317/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/01/nhung-tu-thoi-thuong.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/2905365654574597317'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/2905365654574597317'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2011/01/nhung-tu-thoi-thuong.html' title='Những từ thời thượng'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-7524216315099388704</id><published>2010-12-23T06:51:00.001-08:00</published><updated>2010-12-23T06:51:58.880-08:00</updated><title type='text'>Số phận của những “từ lạ”</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Số phận của những “từ lạ”&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Ngôn ngữ luôn luôn biến đổi, thường xuyên xuất hiện những từ lạ - những từ ngữ không bình thường. Theo thời gian, nhiều từ sẽ mất đi nhưng cũng có những từ trở thành thông thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Có 3 lớp từ lạ đáng lưu ý.&lt;br /&gt;Những khái niệm  mới&lt;br /&gt;    Xã hội  luôn luôn biến đổi nên thường xuyên xuất hiện những từ ngữ chỉ những khái niệm mới lạ. Hàng năm, những nhà xuất bản lớn luôn luôn có những từ điển  những từ ngữ mới xuất hiện trong  năm.  Nhưng nhiều khi vừa in xong thì ngay trong năm đó lại xuất hiện những  từ rất mới nữa. Ví dụ quyển Oxford Dictionary of English NewWords.pdf  (lần thứ hai) của Oxford University Press,  xuất bản năm  2003 nhưng lại không có từ  yuppie , một từ xuất hiện năm 2003 và được tạo thành từ  4 từ: young, urban (ở thành phố), professional (có chuyên môn), hippie (có tham vọng và một chút nổi loạn). Khái niệm này đã được thảo luận trên Diễn đàn thanh niên thế giới (Voice  of Youth).&lt;br /&gt;    Nhiều từ ngữ lạ bị thời gian đào thải nhưng cũng nhiều  từ ngữ tồn tại mãi  làm  vốn từ của chúng  ta tăng lên, phong phú lên. &lt;br /&gt;Những từ ngữ lạ xưa như trái đất là những từ liên quan tới những  khái niệm  khoa học. Một từ mới được đặt ra cho một khái niệm  khoa học thường  được dùng vĩnh viễn. Một nhà khoa học Mỹ phát hiện một loại hạt cơ bản.  Trong lúc loay hoay tìm tên đặt cho loại hạt này thì nghe tiếng  quạ kêu. Ông bèn gọi  loại hạt này là quark. Cái từ  mô phỏng tiếng  quạ kêu nghe lạ lẫm này trở thành một thuật ngữ được dùng chết luôn  trong vật lí lượng tử.&lt;br /&gt; Khi mới xuất hiện, những đơn vị đo lường   kg, km, ha, m, cm…cũng là những từ lạ. Nhiều người không hiểu tại sao lại viết như vậy.  Không hiểu thì vẫn  phải dùng.  Có những nông dân nói: “Nhà tôi có 3  ha đất” mà không nói “Nhà tôi có 3 héc ta đất”. Đơn vị đo diện tích héc ta được viết tắt là ha là một kí hiệu quốc tế nhưng vẫn là một từ tiếng Việt.&lt;br /&gt;    Hiện nay cách viết 300K (với nghĩa là 300.000) trông lạ mắt. Có người cho là tiếng lóng. Thật ra,   K là qui ước cho số 1000, theo chữ đầu k trong km (= 1000 m), kg (=1000 gam), kw (= 1000 watt)… Số là trong thế kỷ 20, có qui ước cách viết cho máy tính như sau:  mỗi ngày, tháng, năm được viết bằng  2 chữ số, chẳng hạn ngày 30 tháng 4 năm 1975 sẽ được viết là 30.04.75.   Gần bước sang thiên niên kỷ thứ ba, những chuyên gia tin học trên thế giới rất lo lắng về  “sự cố máy tính Y2K”, tức là  “sự cố máy tính năm 2000”.  Y2K là viết tắt của Year 2000. Lo vì không biết trong một hợp đồng kinh tế, hoặc giở lại những  văn bản ngoại giao, nếu gặp 30.04.75 thì máy sẽ hiểu thế nào? Ngày  30.04.1975 hay ngày 30.04.2075? Thấy cách viết Y2K ngắn gọn, một số nước đã dùng cách viết tắt này, thay vì ba chữ số 0 người ta dùng một chữ K. Qui ước  này  có hạt nhân hợp lí, nên ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. Việt Nam không là một ngoại lệ. Điều  gì hợp lí thì sẽ tồn tại. Trước lạ sau quen. Hiện nay cách viết 300K (với nghĩa là 300.000) trông lạ mắt, thậm chí trông khó chịu với một số người, nhưng  trong một tương lai gần, sẽ trở thành phổ biến, và được công nhận chính thức. &lt;br /&gt;Tiếng  lóng&lt;br /&gt;     Tiếng lóng cũng là những từ lạ. Tiếng lóng hoặc là những từ dùng không theo chuẩn mực thông thường; hoặc là những từ ngữ đặc biệt dùng riêng trong từng  nhóm xã hội, thường là những tầng lớp thấp, nhằm truyền những thông tin bí mật.&lt;br /&gt;    “Hội dịch pắc” là tiếng lóng của giới cầm bút trước đây. Duyên do là trong  cuộc chiến tranh chống Mỹ, chúng ta thường gọi  lính Nam Triều Tiên Pắc Chung Hy  (gọi tắt là lính Pắc)  là  lính đánh thuê.  Ấy thế là tên gọi trên để chỉ “hội dịch thuê”. Ngày nay, nếu có dùng từ lóng này thì cũng chả còn mấy ai hiểu. Hội dịch Pắc  đã lùi vào quá khứ.  Vậy thì, không nên quá lo khi thấy trẻ em dùng tiếng lóng. Một đặc điểm  của tiếng lóng là tính phù du, chóng tàn. Tiếng lóng phản ánh hiện thực xã hội, khi hiện thực xã hội qua đi thì tiếng lóng cũng âm thầm rút lui. Lứa tuổi 8x, 9x liệu có còn biết đi vùng chiến thuật; gà cồ gáy; chó lửa;  nhicôlai, cụ khốt…là những tiếng lóng chỉ  sự  chết, đại bác bắn, súng lục, trẻ vị thành niên, cụ già  cổ lỗ sĩ …?     Một loạt tiếng lóng trong những phóng sự của Vũ Trọng Phụng hay Bỉ vỏ của Nguyên Hồng nay cũng không còn mấy người biết chứ chưa nói đến dùng.&lt;br /&gt;    Đôi khi, có những tiếng lóng được xã hội chấp nhận, và vượt qua được thử thách nghiệt ngã của thời gian. Chúng chuyển thành cách dùng bình thường. Nhiều tiếng lóng xuất hiện từ thập kỷ 50, 60 thế kỷ trước đến nay được sử dụng rộng rãi. Đó là: mánh , xịn,  dỏm, quê một cục, chôm chỉa, cớm, cây (vàng), quậy,… ( Lúc đầu chỉ nói trẻ em “quậy”).&lt;br /&gt;Có những  tiếng  lóng nay không  dùng  nữa, nhưng  đặt trong  ngữ cảnh thì vẫn hiểu được:  Chẳng hạn, mang ba lô:&lt;br /&gt;“Em vì tình mang ba lô đằng trước&lt;br /&gt;Anh  vì nước mang ba lô  sau lưng.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng nước ngoài&lt;br /&gt;    Tiếng nước ngoài cũng là những từ lạ. Do tâm lí chuộng lạ, chuộng ngoại, lại muốn khẳng định “trình độ” của mình nên không ít người sính dùng tiếng nước ngoài. Một khi xã hội  thay đổi  thì hiện tượng dùng tiếng nước ngoài cũng thay đổi.&lt;br /&gt;    Thời Pháp, không ít người xài tiếng Pháp trong xưng hô như moa (¬ moi: tôi), toa (¬ toi: anh, chị…), lúy (¬ lui: nó, hắn), en (¬ elle: cô ấy), ô-rơ-voa, ô voa (¬ au revoir: chào tạm biệt).&lt;br /&gt;    Khi tiếng Nga thịnh hành thì lại xuất hiện  spaxíbô (cảm ơn); kharasô (tốt). Hoặc “Đã chẳng có trường hợp những người lương thiện, sống có nguyên tắc, nhất quán với lí tưởng, ở nhà bị con cái chê là ‘bôn’, là xơ cứng… đấy ư?” (Hà Nội mới, 13.8.1983)&lt;br /&gt;    Hiện nay, những từ Pháp, từ Nga được thay bằng những từ Anh:  ai (¬ I: tôi),  ju (¬ you: anh, chị…), bai (¬ bye: chào tạm biệt), OK,…  Một khi những từ ngoại này không còn lạ, không còn là “mốt”  nữa và trở thành dư thừa, nhàm chán, thì nó có thể bị loại đi  nếu như  vẫn tồn tại những từ tiếng Việt  đồng nghĩa thật sự với chúng. Người Việt  luôn luôn có khuynh hướng nói theo mã tiếng Việt, nghĩa là nói theo những từ ngữ và cấu trúc căn bản được lưu truyền qua nhiều  thế hệ. (Theo cách nói thời thượng, đó là khuynh hướng loại bỏ những yếu tố ngoại lai để “giữ gìn bản sắc tiếng Việt ”).&lt;br /&gt;        Tuy nhiên, có những từ nước ngoài mang lại một sắc thái mới lạ làm  giới trẻ  thích thú mà những từ Việt tương đương  lâu đời nghĩa dùng đã quá quen thuộc không mấy kích thích.  “Teen” là một ví dụ. Trong nhiều trường hợp nên thay  “tuổi teen” bằng “tuổi thiếu niên”, “tuổi hoa niên”,  “tuổi choai choai” (nam), “tuổi ô mai”, “tuổi chanh cốm” (nữ). Nhưng “tuổi teen” vẫn  hấp dẫn nhiều bạn trẻ. Từ nhu cầu lôi kéo giới trẻ tò mò tìm đọc mà mới đây một nhà xuất bản  và công ty sách  đã in bộ sách 4 tập: Khi teen ở nhà, Khi teen đến trường, Khi teen kết bạn &amp;amp; hẹn hò…(VTV1, Chào buổi sáng, 17.11.2010). Từ “teen”  sẽ có chỗ đứng và trở thành một từ “quen dùng” trong tiếng Việt.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-7524216315099388704?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/7524216315099388704/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/12/so-phan-cua-nhung-tu-la.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/7524216315099388704'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/7524216315099388704'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/12/so-phan-cua-nhung-tu-la.html' title='Số phận của những “từ lạ”'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-162894093217332803</id><published>2010-12-23T06:48:00.000-08:00</published><updated>2010-12-23T06:49:12.003-08:00</updated><title type='text'>Nên học ngoại ngữ  từ rất sớm</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;font-size:180%;" &gt;Nên học ngoại ngữ  từ rất sớm&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Không có nhu cầu giao tiếp sẽ không có ngôn ngữ. Tách bé sơ sinh khỏi xã hội loài người, nó sẽ không biết tiếng người. Con người có năng lực bẩm sinh ngôn ngữ.&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;    Tiếng nói:  sản phẩm đặc biệt của con người&lt;br /&gt;    Tôn giáo và ngôn ngữ  không  di truyền.   Hoàng đế Zêlan Utđin Acba muốn biết  một đứa trẻ không  ai dạy bảo thì có thể gọi tên các vị thần trong tôn giáo mình hay không và  nó có thể nói được tiếng nói của dân tộc mình hay không? (ý ông muốn biết  tôn giáo và ngôn ngữ có di truyền không?) Ông bèn bắt cóc một số trẻ sơ sinh thuộc nhiều dân tộc theo nhiều tôn giáo khác nhau rồi cho  nuôi trong một tháp kín,  không ai được lai vãng tới... Vậy là biệt lập hoàn toàn với xã hội loài người. Sau 12 năm mới mở cửa tháp. Bọn  trẻ vẫn lớn nhưng có thú tính. Và đặc biệt không nói được tiếng người, và tất nhiên không biết tiếng mẹ đẻ của chúng. &lt;br /&gt;    &lt;br /&gt;       Người sống cùng lợn. Bé Wang là con một gia đình nông dân nghèo ở tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc. Mẹ bị liệt nên em bị bỏ rơi  khi mới hai tuổi. Ngày ngày bé Wang cùng ăn ngủ với một đàn lợn cho đến năm lên 6 tuổi thì… một hôm , cô giáo Xiên vào rừng bắt gặp một em bé cùng đàn lợn đang kiếm ăn trong khu rừng đó. Thấy người, đàn lợn hoảng sợ bỏ chạy. Em bé cũng chống hai tay xuống đất cùng chạy theo đàn lợn.  Cô giáo Xiên vội báo cho cơ quan y tế địa phương.  Khi đoàn nghiên cứu tới nơi, họ rất ngạc nhiên vì thấy em bé đang dùng miệng thúc vào máng lợn và kêu ụt ụt… tranh ăn với đàn lợn. Mọi động tác của em giống hệt một con lợn. (NB&amp;amp;CL, 11.1991)&lt;br /&gt;      Vậy là trẻ em khi sinh ra, ở với người nói tiếng người, ở với loài vật nào có “ngôn ngữ”  của loài vật đó.&lt;br /&gt;    Người sống với sói. Ở  Ấn Độ , năm 1920, người ta phát hiện ra có hai bé gái được chó sói nuôi. Một  khoảng 2 tuổi, một khoảng 7,8 tuổi. Hai em được cứu thoát. Khi trở về, em nhỏ bị chết. Em lớn sống được. Tuy nhiên em có những tập tính của chó sói: gầm gừ, bò bằng cả chân lẫn tay, thỉnh thoảng lại sủa. Và cũng không nói được một thứ tiếng nào cả. Người ta dạy tiếng cho em.  Sau 4 năm, em học được  6  từ. Khoảng 16 tuổi em chết, lúc đó em biết  50 từ có năng lực  ngôn ngữ của một em bé 4 tuổi). Thế là ở với sói nói “tiếng sói” và tới một tuổi nào đó  sẽ mất khả năng học tiếng người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Một đứa trẻ Việt vừa lọt lòng, nếu sống trong một gia đình người  Pháp, người  Anh hay người Hàn thì nó  sẽ nói tiếng Pháp, tiếng Anh hay tiếng Hàn. Bất cứ đứa trẻ nào, dù được sinh ra ở đâu, bố mẹ của chúng là ai nhưng được sống trong môi trường ngôn ngữ nào thì nó cũng nói thứ tiếng đó.&lt;br /&gt;    Chim muông không có khả năng này. Mỗi loài chỉ có thể “nói” theo “ngôn ngữ” tổ tiên mình. Sói hú, chó sủa, sáo hót, dê be be, lợn ủn ỉn, …Và quan trọng hơn, không con vật nào dù thông minh nhất lại có thể nói được tiếng người. Loài vẹt, loài  sáo… có thể “học vẹt” được một số từ nào đó của con người. Nhưng chúng “nói” mà không hiểu. Được dạy câu “nhà có khách”, khi thấy tên trộm vào dẫn trâu nhà mình đi thì vẹt ta vẫn  “nhà có khách!”, “nhà có khách!” Qua quá trình tiến hóa, bộ óc của con người đã phát triển tới mức có thể tiếp thụ, lĩnh hội được ngôn ngữ. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;    Năng lực bẩm sinh ngôn ngữ&lt;br /&gt;    Trong các ngày  10 – 13 tháng 10. 1975, tại Trung tâm Royaumont, Paris, có cuộc thảo luận (débat) về chủ đề  lí thuyết về hoạt động ngôn ngữ và sự  học  tập ngôn ngữ giữa nhà ngôn ngữ học Mỹ lừng danh Noam Chomsky và  nhà tâm lí học Thụy Sĩ cự phách   Jean Piaget. Tham dự còn rất nhiều nhà khoa học tên tuổi thuộc những lĩnh vực nhận thức luận, triết học, y học, di truyền học, thần kinh học, toán học, nhân chủng học, sư phạm học, trí tuệ nhân tạo,… Tâm điểm cuộc trao đổi là lí thuyết tính bẩm sinh trong ngôn ngữ  của Noam Chomsky và lí thuyết về sự phát triển tâm lí  nhận thức trong quá trình học tiếng của Jean Piaget.&lt;br /&gt;    Theo N. Chomsky, ngôn ngữ con người là một hệ thống  phổ quát. Có mấy nghìn ngôn ngữ tự nhiên khác nhau. Chúng chỉ khác nhau trên bề mặt, còn cấu trúc chìm (underlying structures) lại rất giống nhau. Con người thừa hưởng một năng lực  bẩm sinh (innate capacity) về ngôn ngữ được di truyền từ đời này qua đời khác. Trẻ em dùng cái năng lực bẩm sinh ngôn ngữ này để học những ngôn ngữ cụ thể. Đây là học nói. Sau mới học viết, học các qui tắc từ vựng, ngữ pháp.&lt;br /&gt;    Đứa trẻ hình thành một ngôn ngữ qua  quá trình tiếp nhận, học tập , sáng tạo nhờ năng lực bẩm sinh ngôn ngữ. Các em bắt chước và lặp lại theo lời người lớn, tự ghép nối những từ rời  theo những “qui tắc” các em cảm nhận được khi nghe người chung quanh nói và được điều chỉnh, rút kinh nghiệm  theo sự chỉ bảo của người lớn cho đúng với tình huống dùng…&lt;br /&gt;    Trong khi đó, trường phái hành vi luận (behaviorism) trong giảng dạy và học tập ngôn ngữ lại dựa trên hòn đá tảng là tính phi bẩm sinh (innateness). Quá trình kích thích - phản xạ theo những cách tiếp cận khác nhau  sẽ tạo ra  những  thói quen ngôn ngữ, rồi trở thành những cấu trúc ngôn ngữ.&lt;br /&gt;    Theo thời gian, năng lực bẩm sinh ngôn ngữ giảm dần. Lúc này, sự khác biệt loại hình (typology) giữa hai ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của người học. Người Pháp học tiếng Rumanie dễ hơn học tiếng Việt. Người Việt học tiếng Trung dễ hơn học tiếng Nga. Luận điểm của Jean Piaget về thụ đắc ngôn ngữ đúng ở  giai đoạn này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Những người song ngữ (bilingual speaker)&lt;br /&gt;Người song ngữ  là người biết hai thứ tiếng.  Nước ta, có những cộng đồng dân tộc  nằm trong  cộng đồng người Việt nên họ nói hai thứ tiếng,  tiếng Việt và tiếng của cộng đồng mình: tiếng Hoa, tiếng Khơme, tiếng Chăm, tiếng Tày, tiếng Raglai, tiếng Êđê, tiếng Khơmú...&lt;br /&gt;      Có sự phân biệt song ngữ hoàn toàn, thành thạo hai ngôn ngữ như nhau, và song ngữ bộ phận, nắm vững một ngôn ngữ còn ngôn ngữ kia dùng được trong từng phạm vi cơ bản. Lại có thể phân biệt song ngữ mù chữ và song ngữ biết chữ. Có những người Hoa ở Sóc Trăng nói thoải mái 3 thứ tiếng Việt, Hoa, Khmer vẫn có thể mù chữ một hai thứ tiếng mà họ nói thành thạo. Điều này là một bằng chứng ủng hộ cho giả thuyết bẩm sinh: Biết nói do học hỏi từ bé, học hỏi trong cộng đồng, chứ không nhất thiết phải biết chữ, biết  các qui tắc ngữ pháp.&lt;br /&gt;    Có những đứa trẻ nói được hai thứ tiếng thành thạo như nhau. Thứ tiếng  mà bố mẹ dùng trong gia đình nó nghe từ bé và thứ tiếng của xã hội mà đứa trẻ học khi tới lớp&lt;br /&gt;mẫu giáo và lớn lên trong nhà trường.&lt;br /&gt;    Nên học ngoại ngữ từ rất sớm&lt;br /&gt;    Không thấy nghiên cứu nào nói rằng khả năng bẩm sinh không dùng được để tiếp nhận hai  ngôn ngữ. Vậy thì, sau 5 năm đầu đời các em đã vô thức tiếp nhận được cơ cấu tiếng  Việt, năng lực bẩm sinh ngôn ngữ vẫn được các em  dùng để tiếp nhận một ngoại ngữ khác. Nên tận dụng điều này cho trẻ em học ngoại ngữ từ rất sớm. Sẽ hiệu quả hơn nhiều so với tới trung học mới học ngoại ngữ. Vấn đề là phải có những điều kiện cần để  việc học ngoại ngữ sớm thành công.&lt;br /&gt;    Trước hết,  cách học tiếng ở giai đoạn  này là học mà chơi, chơi mà học. Học theo kiểu bắt chước những hình ảnh thấy trên màn hình, bắt chước lời thầy cô, bắt chước những tình huống giao tiếp.&lt;br /&gt;    Muốn vậy, một mặt cần có chương trình và phương tiện giảng dạy tốt: thật nhẹ nhàng, sinh động qua những trò chơi, và bài hát thích hợp với tâm sinh lí trẻ nhỏ. Mặt khác thầy cô phải là những người mẫu mực, thực sự thông thạo  trong giao tiếp tiếng Anh để trẻ em bắt chước. Nói cách khác, cần những giáo viên giỏi.&lt;br /&gt;    Năng lực ngoại ngữ của trẻ em sẽ mất đi nếu không được rèn luyện liên tục.&lt;br /&gt;    Trong tình hình hiện nay chưa đủ những điều kiện cần, việc dạy đại trà tiếng  Anh ngay từ lớp 1 sẽ khó thành công. Tuy nhiên, nơi nào và những ai có đủ những điều kiện vừa nêu  thì không lí do gì mà không dạy tiếng Anh cho trẻ từ rất sớm.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-162894093217332803?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/162894093217332803/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/12/nen-hoc-ngoai-ngu-tu-rat-som.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/162894093217332803'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/162894093217332803'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/12/nen-hoc-ngoai-ngu-tu-rat-som.html' title='Nên học ngoại ngữ  từ rất sớm'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-6558484398349251445</id><published>2010-11-29T19:31:00.000-08:00</published><updated>2010-11-29T19:34:21.711-08:00</updated><title type='text'>Chữ tác đánh chữ tộ</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Chữ tác đánh chữ tộ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Nếu một  từ  rất ít dùng nhưng lại na ná về âm thanh và chữ viết với một từ quen thuộc thường  dùng sẽ dễ xảy ra hiện tượng trông gà hóa quốc, chữ nọ xọ chữ kia.&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Cẩn thận: ngư dân  có thể thành ngu dân&lt;br /&gt;Trong bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam ngày 16.4.1959, ở đoạn đề cập tới  tầm quan trọng của ngành in, Bác Hồ nói đại ý khi gọi người đánh cá là “ngư dân” người thợ sắp chữ có thể sắp  thiếu cái dấu của chữ ư,  rồi in thành ra “ngu dân”.  Hồ chủ tịch  đã chú ý tới hiện tượng “chữ tác đánh chữ tộ” trong khâu đánh máy, in ấn.   Và  lời  Bác Hồ cũng từng bị nhà báo nghe  nhầm:  Khi tham gia chống hạn vào đầu xuân 1958,  Bác   nói với một nhà báo: “Muốn viết về nghề nông thì phải biết lao động”. Trong bài báo “Hai mẩu chuyện về Bác Hồ” câu này được in hoa đậm thành một tiểu đề: “Muốn biết về nghề nông thì phải biết lao động” (dẫn  NLB, 2.96). Nghĩa đã khác hẳn. Nhiều chuyện bi hài về những lầm lẫn kiểu này.&lt;br /&gt;Những  lầm lẫn hài hước&lt;br /&gt;    Mặt chữ giống nhau, khác chút xíu về dấu huyền và dấu mũ. Ấy thế là “Kẻ làm dâm khấn vái Bà Chúa Thai Sanh.  Xin mẹ tròn con vuông, chẳng đặng trai thì đặng gái” (GN, 24.7.1999). Gái làm dâm lại muốn sinh con?  “Kẻ lâm dâm khấn vái”, trời ạ!&lt;br /&gt;Không chút chú ý tới viết hoa hay viết thường, lại lẫn hai dấu thanh huyền  và hỏi nên cố đạo Alexandre de Rhodes được kết nạp Đảng:  “Nhìn qua sơ yếu lí lịch của cố đạo Alexandre de Rhodes ta thấy nhiều điều đáng kính nể: người Pháp, gốc Do Thái, sinh 1591, mất 1660, vào Đảng trong năm 1624, 4 tháng thông thạo tiếng Việt…” (GD&amp;amp;TĐ,  Từ  Yersin…, 20.9.93). Chúng ta  biết  ngay đây là lỗi mo rát. Cụm từ “vào Đàng Trong” ít người biết. Vì vậy, trong lúc tập trung vào bàn phím người đánh máy đã lẫn thành vào Đảng trong … &lt;br /&gt; Chữ này lộn sang chữ kia: mất ghế vì “ý đồ chính trị”(!)&lt;br /&gt;Trên báo TTT, số 21 tháng 5.1994, ở trang 10 có một tít in  đậm “Uy tín của dòng họ Nêru – Gandi ở Ấn Độ không phải nhất” May mà hôm sau có đính chính lại: “Uy tín của dòng họ Nêru – Gandi ở Ấn Độ không phai nhạt”. Hú vía, Ban biên tập không việc gì!&lt;br /&gt;    Dấy phẩy và chữ  i:  Trong  câu  “…các nước xã hội chủ nghĩa đó,…” dấu phẩy đặt sau chữ đó bị sắp nhầm thành chữ  i, khi in ra thành “…các nước xã hội chủ nghĩa đói…” Không biết tiếng nước ngoài lại phải sắp chữ tiếng nước ngoài, nên “…có lần bản thảo viết “l’amiral” (đô đốc), thợ sắp chữ  nhầm thành  “l’animal” (con vật), người sửa bài không phát hiện được,  sự việc thành to chuyện. Có ai đó đã suy diễn ra rằng đây là vấn đề “chính trị”, quan điểm và tư tưởng chứ không chỉ là sự sơ xuất! Và người sửa bài đã phải chịu trách nhiệm, bị kỉ luật và thay đổi công tác. (Theo  NB&amp;amp;CL,  Quá nhiều lỗi trên báo chí,  1994)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Lầm lẫn những khái niệm  quan trọng&lt;br /&gt;    Những lầm lẫn giữa hai từ na ná âm thanh và rất gần nghĩa  dễ dẫn tới những khác biệt quan trọng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong bài  “Xử kín: có thể  hay phải làm?” (PL TpHCM, 18.7.2000) có câu  “Cũng như con chiên khi được vị linh mục làm phép rửa tội đều đã tường trình hết mọi lỗi lầm của mình mà tòa buộc vị linh mục ấy ra tòa làm chứng về việc liên quan đến con chiên của mình thì còn ai dám nói lên sự thật để xin tội với cha?” Sao lại xin tội với cha? Phải là xưng tội với cha chứ.&lt;br /&gt;    Hiến pháp hay biến pháp? Trên báo GN số 546 (17.7.2010), tác giả Nguyên Cẩn viết: “Theo  GS Phùng Hữu Lan […] hiến pháp mà Thương Ưởng thực hiện ở đời Tần Hiếu Công…” (dẫn TTC, 01.10.2010)&lt;br /&gt;Nước Tần thời Xuân Thu – Chiến Quốc sao đã có hiến pháp được? Từ đúng là   biến pháp –  cách gọi tắt của “biến pháp đồ cường” (thay đổi chính sách để mưu sự cường thịnh). Đây là chủ trương nhất quán của Tần Hiếu Công (361 – 338, TCN) do Tả thứ trưởng – chức tướng quốc nước Tần - Thương Ưởng (390-338, TCN) vạch ra kế sách này. Dù kế sách của Thương Ưởng  làm nước Tần giàu mạnh nhưng ông cũng bị nhiều người ghét. Khi Tần Hiếu Công chết đi, ít lâu sau Thương Ưởng  bị vua mới là Tần Huệ Vương xử tử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Từ câu hay hóa câu thường&lt;br /&gt;    Trên báo Thủ đô Hà Nội số 10.10.1959 đăng bài thơ Chín mùa trông đợi của nữ sĩ Ngân Giang, trong đó có khổ thơ&lt;br /&gt;    Nhịp tim hòa lẫn nhịp chân đi&lt;br /&gt;    Sóng mắt hòa trong sóng quốc kỳ&lt;br /&gt;    Lắng bước anh hùng trong khúc nhạc&lt;br /&gt;    Nghe hồn thiêng dân tộc dẫn đường  về.&lt;br /&gt;    Sao trong khổ thơ 7 chữ này, câu cuối lại những 8 chữ? Chữ nghe dư thừa làm hỏng câu cuối. Hóa ra chữ nghe  là “tác phẩm” của người thợ xếp chữ. Có lẽ từ ghép lắng nghe quen thuộc làm nên “mạch văn” câu trên có lắng  thì câu dưới có nghe.&lt;br /&gt;    Lẫn lộn ngã thành  hỏi đã phá hỏng một bài thơ  hay.&lt;br /&gt;    Khi in bài thơ&lt;br /&gt;        “Lên đỉnh Côn Sơn tìm Nguyễn Trãi&lt;br /&gt;        Trên đầu xanh ngắt một bầu không&lt;br /&gt;        Bàn cờ thế sự quân không động&lt;br /&gt;        Mà thấy quanh mình nỗi  bão dông”&lt;br /&gt;nhà thơ Khương Hữu Dụng đã từng tìm đến tận nhà in để dặn người xếp chữ đừng sắp nhầm chữ  nỗi  thành chữ nổi. Ấy thế nhưng trên tờ lịch ngày 03.4.2002 của nhà xuất bản VH lại mắc đúng cái lỗi mà Khương Hữu Dụng đã lo  người thợ hiểu nhầm: Mà thấy quanh mình nổi  bão dông. Danh ngữ nỗi bão dông đã chuyển thành động ngữ  “nổi bão dông (tùm lum!)”  trong khi “trên đầu xanh ngắt một bầu không” tĩnh lặng và “bàn cờ thế sự quân không động”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Từ câu ít hay thành câu rất hay&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Có một giai thoại nổi tiếng về chữ tác đánh chữ tộ trong văn chương Pháp:&lt;br /&gt;Năm 1601, Fr. de Malherbe  (1555- 1628) xuất thần làm bài thơ điếu 40 câu (10 khổ), chia buồn  với một nhà quý tộc  có cô con gái chết trẻ. Hai câu cuối của khổ thứ tư nguyên tác là:&lt;br /&gt;    Et Rosette a vécu ce que vivent les roses //L’espace d’un matin&lt;br /&gt;(Nàng Rosette như kiếp hoa hồng // Sớm nở tối tàn)&lt;br /&gt;Thợ sắp chữ nhầm thành &lt;br /&gt;    Et, rose, elle a vécu ce que vivent les roses // L’espace d’un matin&lt;br /&gt;(Là bông hồng, nàng  như kiếp hoa hồng// Sớm nở tối tàn). Câu thơ thật lung linh hình tượng.&lt;br /&gt;Khoảng đầu những năm 60 “nhà thơ Xuân Quỳnh, lúc đó đang học khoá I trường Bồi dưỡng những cây bút trẻ của Hội nhà văn ở Quảng Bá, có gửi đến nhà xuất bản  Văn học một bản thảo thơ có tên  Trời biếc, nhưng chị đã viết chữ Trời thành Chời, hai biên tập viên lúc ấy của nhà xuất bản Văn học là Yến Lan và Khương Hữu Dụng, đều là người miền Nam, đã đọc chời thành chồi. Thế là tập thơ trở thành CHỒI BIẾC, đã in chung với  TƠ TẰM  của Cẩm Lai” (Văn nghệ trẻ,  04.7.99)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Mấy khi nhầm sai hóa  hay!&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-6558484398349251445?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/6558484398349251445/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/chu-tac-anh-chu-to.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6558484398349251445'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6558484398349251445'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/chu-tac-anh-chu-to.html' title='Chữ tác đánh chữ tộ'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-7284054598417483371</id><published>2010-11-27T03:42:00.000-08:00</published><updated>2010-11-27T03:45:18.842-08:00</updated><title type='text'>triết lí tiếng Việt: chất vấn để bác bỏ</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;triết lí tiếng Việt: chất vấn để bác bỏ &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;Ví dụ&lt;br /&gt;Ớt nào là ớt chẳng cay?&lt;br /&gt;Đây là một câu hỏi, nhưng mọi người đều biết ý của câu này là ớt thì cay. Vì sao? Câu này là lời chất vấn sự tồn tại của loại ớt  chẳng  cay. Nhưng chất vấn để bác bỏ: không tồn tại, không có loại ớt nào chẳng  cay. Vậy hành vi hỏi trên đây gián tiếp thành một hành vi bác bỏ: Ớt thì cay.&lt;br /&gt;Cứ liệu &lt;br /&gt;Chúng ta xét một loạt câu khác:&lt;br /&gt;Sao mà tin được lời bọn họ?&lt;br /&gt;Với từ sao, câu này chất vấn khả năng “sao tin lời được” nên dẫn tới bác bỏ khả năng “Không có khả năng tin lời được”. Hàm ý của câu 2 là không tin  lời bọn họ được.&lt;br /&gt; “Dời đi đâu? Tiền đâu mà dời?”&lt;br /&gt;Với từ đâu, câu này chất vấn khả năng tìm nơi đâu ra tiền, dẫn tới bác bỏ khả năng tìm ra tiền. Hàm ý của câu 3 là không có tiền để dời nơi ở.&lt;br /&gt;      (4)  Ông là người Êđê , có học, lẽ nào ông quên câu nói đó.&lt;br /&gt;“Lẽ  nào” là lời chất vấn về lí do  dẫn tới bác bỏ lí do “không lẽ nào ông quên”. Hàm ý của câu này là ông không quên câu nói đó.&lt;br /&gt;(5) Tôi nói điều đó  làm gì  kia chứ?&lt;br /&gt;“Làm gì” là lời chất vấn về mục đích của hành động để  bác bỏ hành động. Kết cục là bác bỏ sự kiện. Câu 5 có hàm ý tôi không nói điều đó.&lt;br /&gt;(6) Tỉnh người ta thiếu gì?&lt;br /&gt;Lời chất vấn “thiếu gì” dẫn tới bác bỏ khả năng thiếu. Và hàm ý của câu 6 là tỉnh người ta không thiếu.&lt;br /&gt;(7)  Nó giúp tôi bao giờ? &lt;br /&gt;“Bao giờ” là lời  chất vấn về thời gian giúp,  dẫn tới  bác bỏ về thời gian xảy ra sự giúp đỡ, tức là không xảy ra sự  giúp tôi. Kết quả, câu này có hàm ý nó chưa bao giờ giúp tôi.&lt;br /&gt;       (8) Ai dám lên tiếng mời những ông cốp về hưu?&lt;br /&gt;“Ai dám” là lời chất vấn về khả năng có người dám mời, dẫn tới bác bỏ khả năng đó. Kết quả là câu 8 có hàm ý không ai dám yêu cầu  những ông cốp (người có quyền chức to) về hưu.&lt;br /&gt;    Và hàng loạt những câu chất vấn khác đều bác bỏ  nội dung của câu: “Anh không  nói thế là gì?”; “Thoát khỏi thế nào được?”; “-Thực ra thằng Tùng cũng được chứ không đến nỗi nào đâu […]. Ông Hàm nghiêm ngay mặt: “ - Được là được thế nào?”; “Có thể nào yên?” ;“Thử hỏi làm sao người ta gắn bó được với nhà máy bây giờ?”; “Đấy, bác cũng chẳng  “thèm người” là gì? (Lặng lẽ Sapa)…&lt;br /&gt;Khái quát&lt;br /&gt;    Trong tiếng Việt có loại câu chất vấn để bác bỏ.  Những câu trong bài thuộc  loại  chất vấn yếu tố  phiếm định để tạo ra  sự bác bỏ tuyệt đối.      Những bạn rành các ngoại ngữ Anh, Pháp, Nga, Ba Lan… liệu có thể  dịch các câu  1 – 8  sang những ngôn ngữ đó theo phương thức hỏi các từ phiếm định “ớt nào?”, “sao mà…”, “tiền đâu…”, “lẽ nào”, “làm gì”,  “thiếu gì”, “bao giờ”, “ai dám”… mà vẫn thể hiện được nội dung bác bỏ?     Chất vấn để bác bỏ là một đặc thù của tiếng Việt, thể hiện cách tư duy độc đáo  của người Việt.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-7284054598417483371?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/7284054598417483371/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/triet-li-tieng-viet-chat-van-e-bac-bo.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/7284054598417483371'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/7284054598417483371'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/triet-li-tieng-viet-chat-van-e-bac-bo.html' title='triết lí tiếng Việt: chất vấn để bác bỏ'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-8932314563297741111</id><published>2010-11-21T17:14:00.000-08:00</published><updated>2010-11-21T17:15:32.940-08:00</updated><title type='text'>Câu đúng, câu sai: những ranh giới mong manh</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Câu đúng, câu sai: những ranh giới mong manh&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;    Câu sai được chia thành nhiều loại: sai chính tả, sai từ ngữ, sai ngữ pháp, sai lô gích, sai phong cách …&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn nhận hiện tượng sai không đơn giản&lt;br /&gt;Có những cơ quan nhà nước đầy quyền hành về chữ nghĩa cũng có những quyết định không chuẩn.&lt;br /&gt;Lấy lại tên gọi sau 99 năm&lt;br /&gt;Lấy tên người đặt cho tên một vùng  đất, một con kênh, một thị trấn… là chuyện bình thường. Nhưng viết  thế nào mới đúng? Bang California (Mỹ) có một thị trấn được đặt theo tên ông Smart, người xây dựng tòa nhà đầu tiên của thị trấn vào năm 1856. Theo ngữ pháp tiếng Anh, lẽ ra “thị trấn của ông Smart”  viết là  Smart’s ville thì người ta lại viết Smartsville. Năm 1909 Cơ quan Bưu điện   Mỹ tuyên bố chữ S thứ hai trong Smartsville là sai ngữ pháp. Từ đó,  thị trấn này được gọi bằng  Smartville. Từ nhiều năm qua người dân thị trấn này đấu tranh giành  lại tên gốc, giành lại ‘nguồn gốc , danh dự và sự nổi tiếng’ của thị trấn.  Tháng 5.2008, Cơ quan phụ trách các tên gọi địa lí  Mỹ phán quyết rằng, thị trấn có quyền sử dụng tên gốc Smartsville của mình. (TT, 28.5.08). Vậy là thị trấn này được phép lấy lại tên cũ sau khi mất chữ S thứ hai trong suốt 99 năm qua.&lt;br /&gt;   Không có khái niệm sai về  tên đặt ra trong giấy khai sinh. Cũng không có khái niệm sai về bút danh, bí danh. Ai muốn viết như thế nào mặc lòng. Tên gọi “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” là đúng, mặc dù theo trật tự Hán-Việt có người cho rằng  phải đảo lại trật tự mới chuẩn.&lt;br /&gt;    Có câu, người này cho là sai nhưng người khác lại thấy  đúng.&lt;br /&gt;Câu “Với đồng lương hưu không đủ sống, từ những năm 1987, anh đã viết hàng chục lá đơn…” (NB&amp;amp;CL, 9-10/1993)  đã bị T. Nh. phê là chỉ có một năm 1987, sao lại dùng từ những? Và NB&amp;amp;CL đã cám ơn. Ấy thế nhưng chúng ta có thể hỏi: Phải chăng câu trên đây không sai? Trong tiếng Việt từ những còn được dùng với ý nghĩa nhiều: “Tôi cao những 1m8”, “Ông ấy có những 3 biệt thự”. Khi người bố hỏi “Tối qua con đi những  đâu?”, người con có thể đáp vào từ những: “Có đâu mà những! Con chỉ sang ôn bài ở nhà Bé Ba”. Vậy nếu người viết muốn nói từ nhiều năm rồi, từ những năm 1987, thì câu trên  đâu có sai?&lt;br /&gt;Không sai nhưng lại là…sai&lt;br /&gt;    Không  sai nhưng  trái  ý người  viết&lt;br /&gt;    Trên tuần báo P có bài “Người Hà Nội mù chữ”. Bài này chỉ nêu lên  hiện tượng có một số người Hà Nội mù chữ, thế mà lại viết  “người Hà Nội ”.  Viết vậy hoá ra: Mọi người Hà Nội đều mù chữ. Đầu đề này mang định hướng chê người Hà Nội, ngược với ý  tác giả bài phóng sự. Bây giờ chúng ta thử đổi thành: “Người Hà Nội cũng mù chữ?” Do dùng kiểu  hỏi,  đầu đề này thể hiện được sự ngạc nhiên chứ  không còn là lời chê nữa.  Từ cũng trong câu hỏi này tạo nên ý sau: người vùng nào mù chữ còn hiểu được chứ “người Hà Nội mà cũng mù chữ” thì không thể tin được. Kết quả là  trong thâm tâm có ý đánh giá cao Hà Nội về dân trí.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Khen cái này lại phủ định cái kia&lt;br /&gt;      Có bài viết  “Khác với “Dế mèn phiêu lưu ký”, truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm đã đem lại nhiều tiếng vang lớn cho nhà văn Tô Hoài”.&lt;br /&gt;Câu trên ca ngợi truyện “Vợ chồng A Phủ”  nhưng vô tình đã hạ thấp “Dế mèn phiêu lưu ký”. Thế là khen cái này, nếu vô ý về câu chữ có thể dẫn tới chê cái kia.  Cụm từ “khác với” mở đầu trạng ngữ của câu  đã tạo ra hàm ý không mong muốn đó.  Chỉ cần thay  “khác với” bằng “giống như”  chúng ta sẽ được một câu ca ngợi cả hai tác phẩm : “Giống như “Dế mèn phiêu lưu ký”, truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” cũng là một tác phẩm đã đem lại nhiều tiếng vang lớn cho nhà văn Tô Hoài”.&lt;br /&gt;    Một ví dụ khác, trên báo H., có người viết về tình cảm với Xuân Diệu của nhà thơ Trần Đăng Khoa  như sau: “Hồi nhỏ, Trần Đăng Khoa rất kính trọng nhà thơ Xuân Diệu.”&lt;br /&gt;    Đọc dòng trên độc giả sẽ hỏi: Hồi nhỏ là vậy còn hiện nay thì sao? Đã khẳng định “hồi nhỏ rất kính trọng” thì hiện nay không thể là “rất kính trọng” được nữa  vì nếu trước sau vẫn luôn luôn rất kính trọng thì cần gì tới trạng ngữ “hồi nhỏ”? Ấy thế là  hồi nhỏ rất kính trọng còn hiện nay thì khác… nghĩa là không rất kính trọng nữa! Ca ngợi như vậy thì bằng mười phụ nhau.&lt;br /&gt;    Cách dùng trạng ngữ như vậy sẽ tạo ra những câu có hàm ý. Những câu sau cũng gây ra những hiểu lầm tai hại cho dù người viết có thể không có ngụ ý gì: “Hồi trước , ông ấy liêm khiết lắm.”, “Nó đã từng là người tử tế.”…&lt;br /&gt;    Không sai nhưng không thích hợp với tình huống&lt;br /&gt;    Nói năng trong giao tiếp bạn bè khác giao tiếp trước công chúng. Trò chuyện trên bàn ăn khác giao tiếp nghi lễ chính thống.&lt;br /&gt;    Có những quốc gia quy định về ngôn ngữ văn hóa trong những môi trường nhất định.  Tại Quốc hội Ixraen (Knesset), một quy định về “đạo đức lời nói” bắt đầu có hiệu lực từ  21.6.2001. Ông nghị nào vi phạm sẽ bị … chế tài. Theo quy định này có một danh sách các từ cấm kị mà các ông nghị không được dùng trong Quốc hội. Đó là những từ thô tục, là những từ mà người Ixraen  cho là lăng nhục họ, như  “kẻ phản bội”, “tên thất học”, “tên độc ác”, “kẻ giả dối”… và là những từ mang màu sắc chính trị hoặc tôn giáo như “bài Do Thái”, “phát xít”, “tên khủng bố”, “chính phủ của những kẻ giết người”… (TT, 23.6.2001).&lt;br /&gt;    Một vận động viên thể thao thường bị coi là “võ biền” nhưng trước công chúng thì không được phép có những cử chỉ và lời nói thiếu văn hóa. Trong trận bán kết giải Wimbledon ngày 03.7.2009, đang trong lúc thi đấu Andy Murray bị trọng tài nhắc nhở vì có những lời nói ‘không thích hợp.’&lt;br /&gt;    Ngoài đường phố, trong quán cà phê, khi “tám” với bạn bè có thể dùng ngôn ngữ đường phố, dùng tiếng lóng, nhưng trong nghị trường thì không thể nói “Tôi đồng ý xử nghiêm. […] Nghiêm ở đây không có nghĩa sai là “chặt chém”  ngay, như vậy thì hết người, không có người để làm.” (TT, 13.6.2010)&lt;br /&gt;   &lt;br /&gt;    Thay đổi, thêm bớt một từ, một dấu  có thể làm nội dung câu khác hẳn đi. Câu đúng đấy nhưng vẫncó thể … sai.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-8932314563297741111?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/8932314563297741111/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/cau-ung-cau-sai-nhung-ranh-gioi-mong.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/8932314563297741111'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/8932314563297741111'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/cau-ung-cau-sai-nhung-ranh-gioi-mong.html' title='Câu đúng, câu sai: những ranh giới mong manh'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-1799155250468896990</id><published>2010-11-02T17:56:00.000-07:00</published><updated>2010-11-02T18:04:24.908-07:00</updated><title type='text'>Để lâu câu sai hoá… đúng</title><content type='html'>&lt;p style="font-weight: bold; text-align: center;" class="pTitle"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Để lâu câu sai hoá… đúng&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class="pHead"&gt;SGTT.VN - Nhà ngôn ngữ học người Pháp gốc Thuỵ Sĩ  Charles Bally viết: “Ngôn ngữ ngày mai được chuẩn bị trong một loạt  những cái sai của ngôn ngữ ngày hôm nay”. Điều này có nghĩa là những  cách nói sai hiện nay nếu không phê phán, quyết liệt ngăn cấm kịp thời  thì sẽ trở thành những cách nói đúng trong tương lai!&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt; &lt;/p&gt;&lt;table class="ImgBoxEmbeddedCenter" id="tblImageBox" style="width: 620px;" align="center" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0"&gt;     &lt;tbody&gt;         &lt;tr&gt;             &lt;td&gt;             &lt;div id="divImageBoxImage"&gt;&lt;a href="http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=119199" rel="lyteshow[vacation]" shape="rect"&gt;&lt;img alt="" class="imgImageBox" id="imgArticleEmbedded" style="border: 0px solid;" src="http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=119199" width="620" height="381" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;             &lt;/td&gt;         &lt;/tr&gt;     &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;  &lt;p class="pInterTitle"&gt;Sai từ thừa chữ...&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Ví dụ: cách nói “chiếc đồng hồ &lt;em&gt;mới cứng&lt;/em&gt;” hiện  nay được coi là đúng. Ấy thế nhưng cách đây 40 năm nó bị coi là sai, vì  lúc đó “mới cứng” chỉ dùng cho tiền giấy bạc mới in, còn cứng. Một ví dụ  khác: cách nói “&lt;em&gt;Hỗ trợ&lt;/em&gt; cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn” hiện nay được coi là bình thường. Trước đây, đó là cách nói sai. Vì &lt;em&gt;hỗ&lt;/em&gt; là lẫn nhau, là từ hai phía, &lt;em&gt;hỗ trợ&lt;/em&gt; là sự giúp đỡ nhau từ hai phía. Lẽ ra phải nói “&lt;em&gt;trợ giúp/giúp đỡ&lt;/em&gt; cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn”.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Ngay từ đầu những cách nói sai &lt;em&gt;mới cứng, hỗ trợ&lt;/em&gt; không bị phê phán, uốn nắn nên dần dần được nhiều người dùng, kết cục thành cách nói được xã hội chấp nhận.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Những từ ngữ sai bắt nguồn từ quy định của cơ quan công  quyền thì hết cách sửa, vì nó đã thành thuật ngữ của một khái niệm pháp  lý. Ví dụ: xe môtô có dung tích xilanh trên 50cm&lt;sup&gt;3&lt;/sup&gt; thì ngành  công an gọi là “xe phân khối lớn”. Mọi người phải chấp nhận thuật ngữ  này, dù học trò tiểu học cũng biết rằng không có khái niệm &lt;em&gt;phân khối lớn&lt;/em&gt; và &lt;em&gt;phân khối nhỏ&lt;/em&gt;. Bây giờ không ai sửa được cái từ ngữ “xe phân khối lớn” vô nghĩa về khái niệm này nữa!&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Dùng từ ngữ dư thừa cũng là sai. Chúng ta nêu ở đây một  kiểu dư thừa rất hay gặp trong cấu tạo từ ghép có một yếu tố Hán – Việt  và nay đã thành “đúng”: cây đại thụ, đường quốc lộ, người nông dân…&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Từ Hán – Việt &lt;em&gt;thụ&lt;/em&gt; là cây. Thế nên cách nói “Ông là một cây &lt;em&gt;đại thụ&lt;/em&gt;  trong giới sử học” là dư, nhưng cách nói này hiện nay được coi là đúng.  Và đúng tới mức không thể bỏ từ cây. Còn câu “Ông là một &lt;em&gt;đại thụ&lt;/em&gt; trong giới sử học” lại bị coi là không bình thường (!). Từ Hán – Việt &lt;em&gt;nông dân&lt;/em&gt;  là “người lao động sống bằng nghề làm ruộng” (Từ điển tiếng Việt, Hoàng  Phê chủ biên). Vậy thì “người nông dân” cũng là dư. Những cách nói dư  này đã trở thành bình thường đến nỗi đã đi vào cả thơ văn. Trong bài &lt;em&gt;Viếng bạn&lt;/em&gt;, Hoàng Lộc viết: “Hôm qua còn theo anh/ Đi ra &lt;em&gt;đường quốc lộ&lt;/em&gt;/ Hôm nay đã chặt cành/ Đắp cho người dưới mộ”.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Vậy là câu dư để lâu cũng thành đúng!&lt;/p&gt; &lt;p class="pInterTitle"&gt;... đến sai cả cụm, cả câu&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Có những kiểu câu sai ngữ pháp nay cũng thành đúng. Năm 1975, trong mục &lt;em&gt;Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt&lt;/em&gt;  trên báo Nhân Dân, nhà nghiên cứu Nguyễn Kim Thản với bút danh Vương  Thịnh đã viết về một loại lỗi ngữ pháp “Qua thực tế, cho thấy…” Kiểu lỗi  này được nhiều nhà ngôn ngữ học tiếp tục thảo luận với tên gọi “sai về  trạng ngữ”, nhưng không được xã hội và nhất là các cơ quan truyền thông  và công quyền lên án mạnh mẽ nên nó tiếp tục được “duy trì” và nay thành  căn bệnh khó chữa. Trên các trang báo, trong các bài viết, xuất hiện  không hiếm những câu như “Theo khảo sát mới đây của các nhà nghiên cứu,  cho thấy nạn tự tử ở Nhật Bản ngày càng…” (&lt;em&gt;Chào buổi sáng&lt;/em&gt;, VTV1, 14.9.2010)&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Thành ngữ “Chân đăm đá chân chiêu” nói về dáng đi của  người say rượu chân phải đá chân trái. Ngày nay không mấy người biết  tiếng Việt cổ: &lt;em&gt;đăm&lt;/em&gt; là phải, &lt;em&gt;chiêu&lt;/em&gt; là trái như trong  tục ngữ “tay chiêu đập niêu không vỡ”. Nhưng từ “chiêu” gần âm với từ  “xiêu”, người ta liên tưởng tới hình ảnh người say thì đi xiêu vẹo, lảo  đảo. Thế là thành ngữ trên được nhiều người nói thành “chân nam đá chân  xiêu”.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Khi một lỗi sai, một lỗi dư thừa nào đó trở nên phổ  biến thì chúng ta hãy dè chừng: chúng dễ trở thành những từ đúng trong  tương lai. Một kiểu nói sai, nếu để lâu từ thế hệ này sang thế hệ khác,  mà càng về sau thì những người rõ cội nguồn (etymology) của nó càng ít  đi nên họ dễ lầm tưởng là đúng.&lt;/p&gt; &lt;p class="pInterTitle"&gt;Phải phát hiện “tế bào lạ”&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Những từ ngữ sai nào dễ được chấp nhận? Đó là những từ  ngữ sai có điểm tựa là “cơ sở lôgic về nghĩa”, là “từ nguyên dân gian”  có vẻ hợp lý.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Chiều 9.7.1995, một nhân viên toà soạn báo nọ hỏi tôi, viết &lt;em&gt;xán lạng&lt;/em&gt; hay &lt;em&gt;sáng lạn&lt;/em&gt; mới đúng? Tôi cười: “Cả hai, mỗi cách viết đều sai một nửa, đúng một nửa”. Một mặt, do không biết gốc của &lt;em&gt;xán lạn&lt;/em&gt; nên nhiều người liên tưởng tới ánh sáng, tới sáng sủa, sáng rực rỡ trên những ngọn núi cao, cuối cùng đã viết &lt;em&gt;xán lạn&lt;/em&gt; thành&lt;em&gt; sáng lạn&lt;/em&gt;. Mặt khác, ngoại trừ &lt;em&gt;xán lạn&lt;/em&gt;, trong tiếng Việt không còn từ nào mà tiếng thứ hai là &lt;em&gt;lạn&lt;/em&gt;, trong khi đó từ &lt;em&gt;lạng&lt;/em&gt; là một đơn vị trọng lượng thì gặp hàng ngày. Ấy thế là &lt;em&gt;xán lạn&lt;/em&gt; thành &lt;em&gt;xán lạng&lt;/em&gt;!&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Chiều 16.5.1999, trên đài truyền hình Trung ương, nhạc  sĩ HK giới thiệu về chèo giảng giải: nếu hát chèo có dở nhưng có tiếng  trống đệm hay, thì sẽ cứu vãn được cho ca sĩ, đó là &lt;em&gt;vụng chèo khéo... trống&lt;/em&gt; (!). Người Nam bộ có hát chèo đâu mà thành ngữ này vẫn dùng rất phổ biến? Thực ra trong “vụng chèo khéo chống”, hai từ &lt;em&gt;chèo&lt;/em&gt;, &lt;em&gt;chống&lt;/em&gt;  liên quan đến mái chèo và cây sào, nghĩa đen của thành ngữ này nói về  chuyện đi lại trên sông nước, còn nghĩa bóng lại là “làm thì dở, kém  nhưng lại khéo biện bạch, &lt;em&gt;chống chế&lt;/em&gt;”.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Tiếng Việt có cách nói đơn giản “xe cộ đi lại”, “những phương tiện đi lại trên đường”. Nhưng trong chương trình &lt;em&gt;Chào buổi sáng&lt;/em&gt;  của VTV1 và báo chí nói chung, cách nói này bị thay bằng một cụm từ Hán  – Việt dài gấp đôi: “xe cộ tham gia giao thông”, “những phương tiện  tham gia giao thông trên đường”. Trong hầu hết các trường hợp, có thể  thay “tham gia giao thông” bằng “đi lại”. Cơ quan truyền thông đừng làm  tiếng Việt dở đi!&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Con đường của một câu sai thành đúng như sau: Một cách  nói A lúc đầu bị coi là sai. Do không sửa ngay, dần dần A trở thành cách  nói tranh chấp với cách nói B vốn được coi là đúng. Tế bào lạ A này dần  dần chiếm ưu thế và đẩy B trở thành cách nói “cổ” ít dùng. Cuối cùng, A  hoàn toàn thắng thế và trở thành chuẩn mới.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Một khi những cách dùng sai đã trở thành đúng thì các  nhà ngôn ngữ học không thể áp đặt kiểu “nói đúng phải là…”, bởi lúc đó  người ta không theo nữa. Dạy con từ thuở còn thơ. Lỗi sai cũng phải được  nghiêm khắc phê phán ngay từ lúc chúng mới bơ vơ vào tiếng Việt!&lt;/p&gt; &lt;p class="pAuthor"&gt;GS.TS Nguyễn Đức Dân&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-1799155250468896990?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/1799155250468896990/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/e-lau-cau-sai-hoa-ung.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/1799155250468896990'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/1799155250468896990'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/e-lau-cau-sai-hoa-ung.html' title='Để lâu câu sai hoá… đúng'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-8950487010120584941</id><published>2010-11-02T17:51:00.000-07:00</published><updated>2010-11-02T17:54:31.011-07:00</updated><title type='text'>ĂN – một từ kì thú</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;ĂN – một từ kì thú&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;“Ăn” là một từ cơ bản và có trong ngôn ngữ của mọi dân tộc.  Từ ăn trong  tiếng Việt cực kì lí thú, phản ánh quá trình nhận thức đặc biệt của người Việt về hiện tượng “ăn”. &lt;br /&gt;GS Hoàng Tuệ có một bài viết rất hay trên Tác phẩm mới (1973) liên quan đến từ ăn. Đây là một gợi ý quan trọng để tôi viết bài này.&lt;br /&gt;     Thuở hồng hoang, tiếng nói của chúng ta có rất ít từ. Trong quá trình phát triển có  nhiều  từ mới được  thêm vào hoặc dùng  từ cũ với  nghĩa mới. Ăn là một từ điển hình có nghĩa được mở rộng. &lt;br /&gt;Khởi thủy, “ăn” là một hành động của con người. Nghĩa của  từ “ăn”  được mở rộng dần dần theo cách  lấy khuôn mẫu con người để nhận thức vũ trụ. &lt;br /&gt;2.  Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai trí tiến đức định nghĩa:&lt;br /&gt; (1) ăn là  cắn, gậm, bỏ vào miệng nhai rồi nuốt đi&lt;br /&gt; Loài vật cũng có hành động “ăn”. Có điều con rắn chỉ có nuốt con mồi. Con cóc, con thằn lằn  chỉ tợp một cái là con mồi  vào bụng chứ không  “cắn, gặm, nhai”. Vậy cần hiểu lại từ ăn khái quát hơn cho phù hợp với cả loài vật. Từ điển tiếng Việt (1992) của Viện ngôn ngữ học định nghĩa:&lt;br /&gt;(1) ® (2)  ăn là  tự cho vào cơ thể  thức nuôi sống&lt;br /&gt;Trong câu “Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn nan, thợ hàn ăn thiếc”(TN), có thể hiểu “ăn giẻ, ăn hồ…” để nuôi sống.  Nhưng người Việt còn có tục ăn trầu. Không ai nuốt trầu như Bill Gates khi tới thăm vùng quê quan họ, mà là nhai rồi nhả bã trầu…Vậy thì trầu không phải là thức nuôi sống. Ca dao có câu cá không ăn muối cá ươn. Cá nào có tự cho  muối vào cơ thể.  Nó  bị con người rắc muối lên ướp để  khỏi ươn, để tồn tại.  Lại nữa, đồ vật cũng “ăn”:  “Con tàu neo ở  cảng ăn hàng”; “Chiếc mô tô này chạy 100 cây số ăn hết 2 lít xăng.” Động cơ xe máy,  tàu thủy, máy bay,  … phải ăn xăng, ăn than  mới chạy được, mới tồn tại được.  Khái quát tiếp: &lt;br /&gt;(2) ® (3) ăn là  tiếp nhận  chất để tồn tại&lt;br /&gt;Thậm chí trong khái niệm “ăn”, người Việt không chú ý tới ăn chất gì. Thi hào  Nguyễn Du lại cho ăn chất trừu tượng:  “Nói lời rồi lại ăn lời như không.”  Cũng  chả ai nghĩ  cho   ăn đòn, ăn roi  là để tồn tại. Chúng ta đi tới một  khái quát cực kì quan trọng:&lt;br /&gt;(3) ® (4):  ăn là sự tiếp nhận&lt;br /&gt;Chết là tiếp nhận đất. Vậy nên ăn đất là ẩn dụ của cái chết.&lt;br /&gt;  Nghĩa của từ càng khái quát càng dễ dùng cho nhiều tình huống khác nhau. Ăn là tiếp nhận, và có dăm bảy đường tiếp nhận: chủ động,  bị động, đồng thuận hoặc theo tục luật.&lt;br /&gt;Chủ động tiếp nhận với ý nghĩa không chính đáng, xấu xa là  ăn bám, ăn chực,  ăn hại, ăn ghẹ, ăn ké,  ăn báo cô; ăn bớt, ăn bòn, ăn vụng, ăn hoang,  ăn không, ăn dỗ (trẻ em), ăn quẩn, ăn quèo, “khôn ngoan thì kiếm ăn người, mạt đời thì kiếm ăn quanh” (TN)… Không ít hạng người có thủ đoạn ăn lưu manh, phi nghĩa: ăn cắp, ăn trộm,  ăn gian, ăn lường, ăn lận, ăn quịt, ăn hớt, ăn bửa, ăn chằng, ăn thông lưng (trong cờ bạc). Những tên đạo chích  và gái đứng đường thì ăn sương. Tục ngữ có câu  “Kiếp trâu ăn cỏ, kiếp chó  ăn của dơ”.  Những hạng kỳ hào, lý dịch, quan chức  ăn chặn, ăn chẹt, ăn cướp cơm chim, ăn tiền, ăn đút lót, ăn hối lộ (xưa gọi lịch sự là ăn lễ), được gọi chung bằng từ ăn bẩn. Từ đây, có cách chửi mắng là bảo một người “ăn cái nọ, ăn cái kia (ô uế, xấu xa)”.&lt;br /&gt;Sự tiếp nhận bị động  là nước da ăn ảnh, ăn phấn, ăn đèn, ăn nắng, ăn gió. Có người  “mặc đồ đen lại ăn hơn đồ trắng”. Giấy sản xuất thời bao cấp rất xấu, thường bị  ăn mực.&lt;br /&gt;Tiếp nhận theo qui luật, theo luật chơi, theo tục lệ  là sự tiếp nhận hợp lí. Đó là  ăn bổng, ăn lộc, ăn hương hỏa, ăn thừa tự, ăn bát họ, ăn cái; làm công ăn lương; làm ở hợp tác  xã  ăn công điểm.  Trong cá cược nói “đặt một  ăn ba”. Trong buôn bán, nói “hàng này đã ăn giá  300 ngàn”. Người làm trái tục lệ liền bị làng xóm kéo đến ăn vạ (ngả lợn gà ra ăn). Ăn vạ  còn nhằm bắt đền, tức tiếp nhận sự đền bù của  người khác.&lt;br /&gt;     Tiếp nhận từ cả hai phía thường mang nghĩa   hài hòa:  Tủ này  ăn mộng.   Những  người  ăn cánh  thường  nói  ăn khớp nhau.  Đội bóng này chơi cực kì ăn giơ (jeu); chưa thấy hai tiền đạo nào chơi ăn ý nhau như vậy.  Dàn đồng ca này hát bè không ăn nhịp lắm…&lt;br /&gt;4. Để ăn được một đối tượng  khác thì phải mạnh hơn. Từ đây ăn có ý nghĩa  là vượt trội, là thắng, là làm tiêu hao đối tượng. Đó là ăn tôm, ăn lèo, ăn chắn trong bài bạc, ăn  xe, ăn pháo trong đánh cờ, đánh bài. Rồi “Cờ bạc ăn nhau về sáng” (TN), “Anh ta thì ăn giải gì, có mà giải rút”,  “Về đầu óc, đứa em ăn đứt thằng anh”; “Đấu với nó sao được, nó sẽ ăn gỏi cậu”…&lt;br /&gt;    Từ đây thêm một dòng nghĩa mới: ăn là tiêu hao đối tượng. Đó là  nước ăn chân; gấu ăn trăng (hiện tượng nguyệt thực); acid ăn mòn kim loại; vải này ăn màu; buôn bán ế ẩm, bị ăn cụt vốn;  biển đã ăn vào 100 mét; đường kẻ này ăn sang trái; “Sơn ăn tùy mặt ma bắt tùy người”(TN)…&lt;br /&gt;5. Từ “ăn” thường trực trong tâm thức người Việt. Và tiếng Việt  có nhiều từ ghép “ăn + X”, ở đó:&lt;br /&gt; -  Có X  nói về duyên cớ ăn:  Ăn Tết, ăn tân gia, ăn hỏi, ăn mừng, ăn khao, ăn giỗ, ăn cơm khách, “Ăn có mời làm có khiến.” (TN);   “Mồng ba cá đi ăn thề, mồng bốn cá về cá vượt vũ môn” (cd)…&lt;br /&gt;- Có X nói về tính chất, phương thức  ăn:  ăn già, ăn non, ăn vặt, ăn vay, ăn đong…; ăn xó mó niêu, ăn xin, ăn mày cửa Phật; “ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối” (TN); “Những người  ăn xổi ở thì / Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày” (Truyện Kiều)…&lt;br /&gt;- Khi ghép “ăn” với một động từ  X  khác,  như  ăn học, ăn tiêu, ăn mặc, ăn ngủ, ăn nói, ăn nhậu, ăn chia, ăn ngồi…vai trò của ăn  và X như nhau, những  tổ hợp này còn có thể  nói về một điều X khái quát:  Ăn chơi nói về chuyện chơi bời,  ăn ở nói về cách ứng xử trong cuộc sống,  còn ăn nằm chủ yếu  nói về chuyện hai người có quan hệ … “nằm” với nhau.&lt;br /&gt;Con đường phát triển nghĩa của từ ăn phong phú là như vậy. Mong bạn hãy liên hệ với từ “ăn” trong ngoại ngữ mình biết và hãy thử dịch những ví dụ gặp  trong bài này xem bao nhiêu trường hợp có thể dùng eat (Anh), manger (Pháp), est’ (Nga) để dịch từ ăn của chúng ta. &lt;br /&gt;Một điều đáng suy ngẫm: nhiều cách nói đặc sắc về từ ăn  đang mất dần đi trong  xã hội hiện đại.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-8950487010120584941?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/8950487010120584941/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/mot-tu-ki-thu.html#comment-form' title='1 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/8950487010120584941'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/8950487010120584941'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/11/mot-tu-ki-thu.html' title='ĂN – một từ kì thú'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-934445937665277918</id><published>2010-10-01T07:39:00.000-07:00</published><updated>2010-10-01T07:40:45.609-07:00</updated><title type='text'>Nói mơ hồ - một nghệ thuật hùng biện</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Nói mơ hồ - một nghệ thuật hùng biện&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Nhà hùng biện thành công nhờ tài lập luận (argumentation). Trong không ít trường hợp dùng những yếu tố mơ hồ khi nói năng lại là phương kế giao tiếp thành công.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người khôn ăn nói nửa chừng,&lt;br /&gt;Để cho người dại nửa mừng nửa lo. (ca dao)&lt;br /&gt;Làm   trai cứ nước hai mà nói. (tục ngữ)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế nào là ăn nói nửa chừng?&lt;br /&gt;Đó là nói những câu không xác định: ngoài những câu mơ hồ có nhiều cách hiểu còn là những câu không có địa chỉ, ở đó không xác định được các yếu tố ai, ở đâu, khi nào, việc gì.   &lt;br /&gt;Có một ông vua hiếu chiến muốn đánh nhau với nước Ba Tư, nhưng không tin lắm vào khả năng mình  chiến thắng. Ông bèn tới cầu ở một ngôi đền nổi tiếng linh thiêng để xin lời phán của thần linh. Thần phán như sau:&lt;br /&gt;Nếu đánh nhau với Ba Tư, một vương quốc hùng mạnh sẽ bị phá tan tành.&lt;br /&gt;Ông vua ngu ngốc này cả mừng, vội đem quân tiến đánh Ba Tư. Nhưng  đã đại bại. Chỉ mình ông trốn thoát. Buồn rầu , hối hận và căm tức, ông ta lén gửi thư đến trách thần linh đền nọ đã phán sai với bút danh người cầu xin tức giận. Ít lâu sau, người coi đền nọ gửi thư trả lời:&lt;br /&gt;Thần linh đâu có nói sai. Chẳng phải là  một vương quốc hùng mạnh – vương  quốc mà ông trị vì – đã  bị phá tan tành đó sao!&lt;br /&gt; “Một vương quốc hùng mạnh” là cụm từ không có địa chỉ: vương quốc nào vậy? Từ một và những từ chỉ số lượng  sẽ làm danh từ đi sau nó thành không xác định. Các đối tượng trong truyện  cổ tích không xác định nên người ta dùng từ một: Ngày xưa, có một ông vua, có một mụ phù thủy trong một  khu rừng, ở một  làng nọ có một ông lão, có một chàng trai, có một  gia đình… Thế là  câu “Một vương quốc hùng mạnh sẽ bị phá tan tành” thành  mơ hồ.  Nếu Ba Tư thua thì câu của thần linh vẫn đúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dùng những từ ngữ trống rỗng, không có thông tin đích thực cũng là cách  nói nước đôi.&lt;br /&gt;Có người hỏi Pistalos, một nhà giáo dục học nổi tiếng người Thuỵ sĩ:&lt;br /&gt;- Ngài có thể nhận ra một đứa trẻ lớn lên sẽ thành người thế nào không?&lt;br /&gt;Pistalos: - Đương nhiên rồi. Một bé gái lớn lên sẽ thành một phụ nữ. Một bé trai lớn lên sẽ thành một đàn ông.&lt;br /&gt;Câu trả lời trên đúng có điều  không trúng  ý  người hỏi, nhưng người ta không thể bác bẻ được. Trong ngoại giao người ta hay dùng cách trả lời này, những ngôn từ trống rỗng vĩ đại.&lt;br /&gt;     Muốn biết về năng lực làm việc hiện nay của một nhà khoa học, một người lại đặt câu hỏi: - Từ năm 1970 đến nay, thầy có gì không đổi và thay đổi những gì?&lt;br /&gt;Trước một câu hỏi quá chung chung, GS có cớ đưa ra một câu trả lời vô bổ:&lt;br /&gt;- Điều không đổi là lúc trước người ta gọi tôi bằng tên gì thì nay vẫn gọi tôi bằng tên đó. Điều thay đổi là  năm 1970 tôi là một thanh niên ngoài 30 thì nay là một ông già U – 80.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói nước đôi để thoát hiểm, né tránh những điều khó nói&lt;br /&gt;Né tránh bằng từ ngữ   lẫn lộn  lớp,  loài của đối tượng. Khi nói “Trâu là loài nhai lại ” thì  trâu chỉ lớp, tức là tập hợp các con trâu.  Còn “Nhà anh chín  đụn, mười trâu” (cd) thì  trâu chỉ một phần tử  của  tập hợp các con trâu.&lt;br /&gt;Nhiều từ ngữ vừa được dùng để chỉ tập hợp, vừa chỉ phần tử  của một tập hợp.&lt;br /&gt;Theo cách này, Lưu Đường đã trả lời được những câu hỏi khó của vua Càn Long:&lt;br /&gt;CL: - Chín cửa kinh thành, mỗi ngày đi ra bao nhiêu người và đi vào bao nhiêu người?&lt;br /&gt;Tài thánh cũng không biết chính xác được, LĐ né tránh: - Bẩm hai. &lt;br /&gt;CL: - Sao lại chỉ có hai người?&lt;br /&gt;LĐ: - Thưa thánh thượng, thần không nói hai người mà là hai loại người: một là  nam và một là nữ.&lt;br /&gt;CL:  - Vậy thì một năm đẻ ra bao nhiêu và chết đi bao nhiêu người?&lt;br /&gt;LĐ: - Muôn tâu thánh thượng, cả nước Đại Thanh  mỗi năm đẻ 1  và chết đi 12.&lt;br /&gt;CL: - Cứ vậy rồi sẽ hết người hay sao?&lt;br /&gt;LĐ: - Thần nói trên lý số  sinh tử. Ai sinh vào  năm Ngọ thì mang  tuổi Ngọ. Nên thần nói là mỗi năm sinh  một.  Ai chết vào giờ nào thì cũng không thoát khỏi 12 con giáp. Nên thần nói là mỗi năm chết 12.  (theo Triệu Truyền Đống)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để bảo vệ công lí, chấp nhận dùng  mẹo cài bẫy mơ hồ&lt;br /&gt;Chuyện kể rằng ở một làng nọ, một nhà giàu có con là Lý Chính Tần từ nhỏ đã đính hôn với tiểu thư họ Trang . Sau vì đám cháy làm họ Lý mất sạch cơ nghiệp. Thế là Trang tiểu thư lại đi đính thân với  tú tài họ Tiền giàu có. Họ Lý lên kiện Bao Công. Bao Thanh Thiên khuyên cô gái họ Trang nên giữ lời ước cũ, nhưng cô không chịu. Thế là Bao Công đành lập mẹo khi xét xử: Tạo tình huống để cô gái nói  câu mơ hồ rồi Bao Công giải thích theo ý mình. Ông làm như sau: Đưa Ba người ra công đường và bắt tú tài họ Tiền, Trang tiểu thư  và Lý chính Tần theo thứ tự quỳ một hàng dọc. Ông nghiêm trang nói với Trang tiểu thư:&lt;br /&gt;- Trên công đường không  nói chơi , cô muốn lấy tiền phu hay hậu phu cho cô chọn. Nhưng đã chọn rồi thì không được chữa lại, phải lập bằng cớ ngay.&lt;br /&gt;Trang tiểu thư  ngẩng đầu nhìn, thấy phía trước là tú tài họ Tiền, bèn đáp:&lt;br /&gt;-  Tiểu nữ xin lấy tiền phu.&lt;br /&gt;Bao Công cười lớn. Sau khi tiểu thư nọ kí vào văn bản vừa lập về lời của tiểu thư, ông nói:  - Trang tiểu thư  rốt cuộc là người hiền huệ, không tham giàu, vẫn muốn lấy người chồng trước. Tiểu thư  lúc này mới vỡ lẽ: tiền phu không phải là người đàn ông phía trước như cô hiểu mà là người chồng trước.&lt;br /&gt;Thật ra nếu cô gái nọ có nói muốn lấy hậu phu thì Bao Công cũng xoay sang “Trang tiểu thư muốn lấy người đàn ông phía sau” (!)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cử chỉ mơ hồ: giải thích  sao cũng được &lt;br /&gt;Để  có thể đảo lộn phải trái, người  nguỵ biện còn dùng những hành động mơ hồ để người nghe không biết đường nào mà hiểu cho đúng. Hiểu  xuôi  cũng được, có hiểu  ngược lại cũng đúng. Nếu  ai tìm ra một điều gì đó phù hợp, tương đồng thì họ thích thú. Còn ai không hiểu thì sợ bị chê dốt nên không dám bình phẩm, chỉ im lặng hoặc phụ họa.&lt;br /&gt;Trước khi trẩy kinh ứng thí, 3 anh đồ đến nhà một đạo sĩ nổi tiếng về tướng số  đốt nhang khấn vái  xin  quẻ. Đạo sĩ nhắm mắt ra hiệu bằng một ngón tay. Ba anh đồ xin đạo sĩ giảng rõ. Ông từ chối: Đi đi, đến lúc đó sẽ hay. Đấy là thiên cơ, không nói trước được.&lt;br /&gt;    Khi bọn học trò đi rồi, tiểu đồng  hỏi:&lt;br /&gt;Sư phụ, rốt cuộc ai đỗ?&lt;br /&gt;Ngón tay ta đã nói rồi.&lt;br /&gt;Ngón tay của thày nói rằng chỉ đỗ có một?&lt;br /&gt;Đúng.&lt;br /&gt;Nếu hai người đỗ thì sao?&lt;br /&gt;Vậy ngón tay nói rằng chỉ một người trượt.&lt;br /&gt;Nếu cả ba người đỗ thì sao?&lt;br /&gt;Thì ngón tay  là tất cả đỗ.&lt;br /&gt;Còn nếu  cả ba đều trượt?&lt;br /&gt;Thì ngón tay  tức là tất cả đều trượt.&lt;br /&gt;Tiểu đồng  ngộ ra: Té ra đó là thiên cơ!&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-934445937665277918?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/934445937665277918/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/10/noi-mo-ho-mot-nghe-thuat-hung-bien.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/934445937665277918'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/934445937665277918'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/10/noi-mo-ho-mot-nghe-thuat-hung-bien.html' title='Nói mơ hồ - một nghệ thuật hùng biện'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-713773863640029657</id><published>2010-09-06T21:26:00.000-07:00</published><updated>2010-09-06T21:27:10.898-07:00</updated><title type='text'>Biết chết liền!</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center; font-weight: bold;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Biết chết liền!&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;                                                                &lt;span style="font-style: italic;"&gt; GS TS Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;                     (nguyên giáo viên chuyên toán, dạy đội tuyển toán thành phố Hà Nội &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;                                 thi học sinh giỏi  toàn miền Bắc 1962 – 1966)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Trong tiếng Việt có hàng loạt câu mà hàm ý,  hay nói đơn giản là ý tứ của nó, trái ngược với lời lẽ bên ngoài.&lt;br /&gt;Bạn hãy cùng tôi đọc mấy câu sau: &lt;br /&gt;1)  Tôi mà nói dối thì tôi làm con cho anh.&lt;br /&gt;2)  Nếu Bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần đi đã.&lt;br /&gt;3)  Cô ấy mà thương anh thì trời sa xuống đất.&lt;br /&gt;4)  Ông ấy mà liêm khiết thì nước này chả có ai  tham nhũng.&lt;br /&gt;5)  Tin lời ông ta thì đổ thóc giống ra mà ăn.&lt;br /&gt;6) “Lấy anh em biết ăn gì,&lt;br /&gt;       Lộc sắn thì chát, lộc si thì già.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đọc những câu  trên đây, bạn không cần là một nhà ngôn ngữ học, không cần biết ngữ pháp tiếng Việt, thậm chí bạn  không   biết chữ nhưng nghe người ta nói là hiểu  ngay  ý tứ  của chúng:&lt;br /&gt;Câu 1)  là   lời thề  với ý là tôi không nói dối.&lt;br /&gt;Câu 2), câu 5)  là  lời khuyên  với ý tứ là xin Bệ hạ đừng hàng, đừng tin lời ông ta.&lt;br /&gt;Câu 3),  câu 4) là những   nhận định với ý tứ là cô ấy không  thương anh đâu, ông ấy không hề liêm khiết.&lt;br /&gt;Câu ca dao 6) là  lời cô gái từ chối em không thể lấy anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Do đâu mà hiểu được ý tứ  của những câu trên? Có thể trả lời: “Tiếng Việt là như vậy, có gì phải thắc mắc”. Hoặc  “Tôi là người Việt, nghe vậy là tôi biết liền!”  Tuy nhiên, chúng ta có thể chứng minh rất chặt chẽ  vì sao  chúng lại có những ý tứ đó.  Và phép chứng minh này dựa trên cơ sở lô gích: Bạn chỉ cần nắm chắc kiến thức Đại số  lớp 10  là có thể hiểu được phép chứng minh này!&lt;br /&gt;    Điều thú vị là con đường hình thành hàm ý của những câu trên đây lại hoàn toàn giống con đường hình thành hàm ý của những câu mà có bạn cho là “tiếng lóng” như dưới đây:&lt;br /&gt; Hỏi: Giáo viên mới dạy thế nào?&lt;br /&gt;Trả lời:  7) Hiểu chết liền.&lt;br /&gt; Hỏi:  Nhỏ đó  có xinh không?&lt;br /&gt;Trả lời:  8) Xinh chết liền.&lt;br /&gt;Hỏi: Có biết bồ của nó không?&lt;br /&gt;Trả lời: 9) Biết chết liền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qui nạp&lt;br /&gt;Hãy thực hiện phép qui nạp như đã trình bày trong sách Đại số 10.&lt;br /&gt;Chín  câu trên đây có hai điểm giống nhau:&lt;br /&gt;Điểm giống nhau thứ nhất: chúng đều là câu rút gọn của câu ghép “Nếu…thì…”:&lt;br /&gt;1)  =  Nếu tôi mà nói dối thì tôi làm con cho anh.&lt;br /&gt;3) = Nếu cô ấy mà thương anh thì trời sa xuống đất.&lt;br /&gt;4)  = Nếu ông ấy mà liêm khiết thì nước này chả có ai  tham nhũng.&lt;br /&gt;…&lt;br /&gt; 7) = Nếu hiểu thì chết liền.&lt;br /&gt; 8) = Nếu xinh thì  chết liền.&lt;br /&gt; 9) = Nếu biết  thì chết liền.&lt;br /&gt;Điểm giống nhau thứ hai: hàm ý của chúng đều là sự phủ định vế thứ nhất của câu ghép.&lt;br /&gt;Phủ định vế thứ nhất “tôi mà nói dối” của câu 1) sẽ thành hàm ý: tôi không nói dối.&lt;br /&gt;Phủ định vế thứ nhất “cô ấy mà thương anh” của câu 3) sẽ thành hàm ý: cô ấy không thương anh. &lt;br /&gt;Phủ định vế thứ nhất “ông ấy mà liêm khiết” của câu  4) sẽ thành hàm ý  “ông ấy không  liêm khiết”.&lt;br /&gt;Tương tự, phủ định vế thứ nhất của các câu 7, 8, 9 sẽ lần lượt được những hàm ý  của chúng: không hiểu; không xinh; không biết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khái quát&lt;br /&gt;Cả 9 câu trên đây có dạng: Nếu A  thì B. Theo sách Đại số lớp 10, về lô gích đó là phép toán kéo theo: A  Þ  B, ở đó A là điều kiện đủ  của B (tức là: có A là có B), còn B là điều kiện cần của A (tức là: không có B là không có A).&lt;br /&gt;Hàm ý của cả 9 câu trên đây đều là sự phủ định A. Tức là ~A.&lt;br /&gt;Câu hỏi: Về phương diện toán học, không có phép suy luận nào cho phép  từ mệnh đề  “A  Þ  B ” lại suy ra được hàm ý  ~A. Ấy thế nhưng tại sao trong thực tế, cả 9 câu trên đây lại có hàm ý ~A?&lt;br /&gt;Suy nghĩ kĩ thì thấy sự qui nạp như mục 2  còn thiếu sót: Chín câu trên đây còn có một điểm chung nữa là: trong thực tế B là điều không xảy ra hoặc không ai muốn xảy ra. Tức là : không có B, không muốn B.&lt;br /&gt;Vậy là đã rõ: các câu trên đây có dạng A  Þ  B,  mà  lại không có B  là  điều kiện cần của A, nên suy ra không có A. Thế là  chúng ta đã chứng minh được hàm ý của 9 câu trên đây đều là không có A.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ứng dụng&lt;br /&gt;Các bạn chỉ cần nói một câu dạng “Nếu A thì B”, ở đó B là điều không xảy ra hoặc không ai mong muốn xảy ra, là chúng ta  có một câu với hàm ý  “không A”, “không muốn A”. Vài ví dụ khác mà các bạn dễ dàng xác định được hàm ý:&lt;br /&gt;- Mày mà thi trượt đại học thì đừng có nhìn mặt tao.&lt;br /&gt;- Làm vậy là sẽ ngồi bóc lịch 10 năm đấy.&lt;br /&gt;- Ông ấy không giàu thì còn ai giàu nữa?&lt;br /&gt;- Con mà lấy nó thì suốt đời không ngóc đầu lên được đâu, con ạ.&lt;br /&gt;- Ông ta mà làm  giám đốc thì  công ty này sẽ vác bị đi ăn mày.&lt;br /&gt;- Con mà cứ vậy thì nhà mình lụn bại đến nơi rồi.&lt;br /&gt;- Báo này còn không đọc thì đọc báo nào nữa?   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết luận&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Biết chết liền!” không phải là tiếng lóng. Hàm ý của câu này cũng như của  hàng loạt câu tiếng Việt có cấu trúc nhân quả , mà “nếu … thì” là một dạng, được hình thành theo một qui luật lô gích  chặt chẽ. Tiếng Việt chính xác và sâu sắc là như vậy. Đến đây hẳn không bạn nào hoài nghi về sức mạnh của  toán học có khả năng giải thích  sâu sắc nhiều hiện tượng tiếng Việt.&lt;br /&gt;Tp HCM, 19.8.2010&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-713773863640029657?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/713773863640029657/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/09/biet-chet-lien.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/713773863640029657'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/713773863640029657'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/09/biet-chet-lien.html' title='Biết chết liền!'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-848230915633920209</id><published>2010-08-26T13:55:00.000-07:00</published><updated>2010-08-26T13:56:28.249-07:00</updated><title type='text'>Tri nhận  thời gian trong tiếng Việt</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Tri nhận  thời gian trong tiếng Việt &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;                                                                           &lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS  Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;Mở đầu&lt;br /&gt;Hầu như tất cả các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt từ xưa đến nay đều có đề cập phạm trù thời gian với hai quan niệm đối lập nhau: trong tiếng Việt có hoặc không có  phạm trù thì.&lt;br /&gt;Những người quan niệm tiếng Việt có phạm trù thì: Bùi Đức Tịnh (1952), Nguyễn Bạt Tụy (1953), Phan Khôi (1955), Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê (1963), Lê Văn Lý (1972), Lê Cận, Phan Thiều (1983) , Nguyễn Anh Quế (1988), Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung (1992), Nguyễn Văn Thành (1992), Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp (1998), Panfilov (2002)…&lt;br /&gt;Những người quan niệm tiếng Việt không có phạm trù thì: Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm (1940), M.B. Emeneau (1951),  M. Grammont (1961), Hoàng Tuệ (1962), Nguyễn Kim Thản (1977), Đái Xuân Ninh (1986), Nguyễn Đức Dân (1996), Phan Thị Minh Thúy (2003). Đặc biệt, Cao Xuân Hạo (1998) đã nghiên cứu rất sâu và chứng minh rằng trong tiếng Việt không có phạm trù thì, chỉ có phạm trù thể.&lt;br /&gt;Có những công trình chuyên nghiên cứu về thể, như Huỳnh Văn Thông  tìm hiểu ý nghĩa thể qua vị từ tình thái trong  tiếng Việt (1998), Nguyễn Hoàng Trung nghiên cứu về phạm trù thể trong tiếng Việt so sánh với tiếng Pháp và tiếng Nga (2005).&lt;br /&gt;    Trong bài báo này chúng tôi chỉ đề cập đến sự tri nhận  về thời gian của người Việt.&lt;br /&gt;Những giả thuyết về sự tri nhận  thời gian &lt;br /&gt;2.1  Con người và sự vật luôn luôn biến đổi.  Con người biến đổi trong không gian và thời gian. Chúng ta có hai ẩn dụ:&lt;br /&gt;THờI GIAN LÀ MộT ĐốI TƯợNG CHUYỂN ĐỘNG (G. Lakoff &amp;amp; M. Jhonson):  Chúng ta nói: “xuân sang”; “từ nay trở đi”… Thời gian chuyển động từ quá khứ  đến tương lai. Thời gian  đến trước thành quá khứ, thời gian  sẽ đến sau là tương lai.&lt;br /&gt;CON NGƯờI CHUYỂN ĐỘNG TRONG THờI GIAN: Chúng ta nói: “sang xuân”&lt;br /&gt;    Con người chuyển động trong không gian cũng tức là chuyển động trong thời gian. Thời gian trong những không gian đã đi qua là thời gian đến trước và trở thành thời gian quá khứ. Thời gian trong những không gian sẽ đi tới là thời gian đến sau và trở thành thời gian  tương lai. Vậy  khi con người chuyển động, thời gian cũng từ quá khứ tới tương lai. &lt;br /&gt;1.2      Không gian là một tập hợp. Thời gian cũng là một tập hợp. Từ ngữ trỏ không gian hình thành trước. Những từ ngữ trỏ thời gian hình thành sau.  Tập hợp không gian  ánh xạ vào  tập hợp thời gian. Cấu trúc từ ngữ không gian ánh xạ vào cấu trúc từ ngữ thời gian. Nghĩa là:  Có sự chuyển nghĩa các từ ngữ không gian thành các từ ngữ thời gian. Những từ ngữ trỏ không điểm - vị trí không gian - trở thành những từ ngữ trỏ thời điểm - vị trí thời gian. Do vậy, nhiều mô hình, qui tắc cấu tạo từ ngữ không gian trở thành những mô hình qui tắc cấu tạo từ ngữ thời gian. Những cấu trúc ngữ pháp dùng cho không gian cũng được dùng cho thời gian. Trong tri nhận  của chúng ta, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian không đồng nhất. Cấu trúc thời gian mở rộng hơn, có nhiều sự phân biệt hơn, nên lớp từ ngữ thời gian phong phú hơn. Điều này dẫn tới việc người Việt đã tận dụng lớp từ ngữ không gian và một só lớp từ ngữ khác để tạo ra những từ ngữ mới trỏ thời gian.&lt;br /&gt;1.3     Tiếng Việt không có phạm trù thì. Vắng hình thức ngữ pháp thể hiện phạm trù này sẽ  có những hình thức ngữ pháp khác và những phương tiện từ vựng để thay thế.&lt;br /&gt;1.4     Trong tri nhận  về thời gian, người Việt có phân biệt sự tình ở những thời gian hiện tại, quá khứ và  tương lai.  Người Việt cũng phân biệt thời gian gần và thời gian xa. Nghĩa là, trong tiếng Việt có những cách nói phản ánh ý nghĩa quá&lt;br /&gt; khứ gần, quá khứ xa, tương lai gần và tương lai xa.&lt;br /&gt;1.5     Người Việt có  các đơn vị thời gian, có phân biệt thời gian xác định và thời gian không xác định.  Người Việt cũng nhận thức được  những hiện tượng có chu kì,  tính liên tiếp, tính tức thì của sự tình.&lt;br /&gt;1.6     Có mối quan hệ giữa thời điểm nói, sự tình và thời điểm xảy ra sự tình. Để diễn đạt những mối quan hệ này trong quá khứ, hiện tại và tương lai, người Việt ý thức được về “điểm nhìn” hay là “không gian thời điểm nhìn”.&lt;br /&gt;3. Từ ngữ không gian chuyển thành từ ngữ thời gian&lt;br /&gt;3.1  Ba từ không gian tiêu biểu về vị trí- khoảng cách so với người nói&lt;br /&gt;ĐÂY –  một từ trực chỉ, trỏ vị trí không gian – không điểm – ngay  nơi người nói và người nghe. “Tôi đây”; “Đây là vườn nhà tôi”; “Đây là tờ năm trăm nghìn giả”…Nếu  không gian này không còn được nhìn thấy, người nói tạo ra một không gian tâm thức  để người nghe “nhìn thấy”. Ví dụ: Viên sĩ quan chỉ vào sa bàn, chỉ vào tấm bản đồ và nói: “Quân ta sẽ phục kích tại đây”. Người dự báo thời tiết trong chương trình truyền hình chỉ vào một điểm trên bản đồ và nói “Nhiệt độ ở đây có thể xuống tới 5o C”. Người kể chuyện  đưa tay chỉ vào chỗ “đây” trên cơ thể một ai đó và nói “Anh ấy bị bắn vào đây”.&lt;br /&gt;KIA – trỏ không điểm có vị trí xa nơi người nói, nhưng có nhìn thấy và do vậy, đó là vị trí xác định.&lt;br /&gt;ĐẤY - trỏ không điểm có vị trí xa nơi người nói, nhưng có thể không còn nhìn thấy, và do vậy có thể là vị trí không xác định. Biến thể của ĐẤY là ĐÓ.&lt;br /&gt;Chúng ta nói: “Đây rất hẹp, đấy rất rộng.”; “Đây là nhà anh Hai, kia là nhà chú Năm, đấy là nhà cô Sáu.”…&lt;br /&gt; 3.2 Các kiểu quan hệ thời gian&lt;br /&gt;       Trong không gian một chiều (đường thẳng), quan hệ không gian đặc trưng bằng khoảng cách gần – xa vô hướng. Thời gian là đối tượng chuyển động có định hướng trước sau, do vậy quan hệ thời gian đặc trưng bằng khoảng cách gần – xa hữu hướng và người Việt đã  tạo ra  những từ ngữ có chiều, nghĩa là những từ ngữ  phân biệt được  thời gian trong quá khứ và thời gian trong  tương lai. Những từ chỉ không điểm  thì không có chiều, như này, đây, kia,  đó,  nhưng khi chuyển sang dùng cho thời gian thì cần tạo ra những từ có chiều để phân biệt quá khứ và tương lai.&lt;br /&gt;       Mặt phẳng là một không gian hai chiều, mỗi điểm được xác định bằng một cặp hai yếu tố x, y tạo thành tọa độ của nó. Còn  thời gian lại không phải là 2 chiều. Những từ  phản ánh không gian 2 chiều như mép, mé, cạnh, rìa, xéo, chéo,…không cần dùng cho lớp từ phản ánh  thời gian.&lt;br /&gt;    3.3 Mở rộng  lớp từ không gian thành lớp từ thời gian&lt;br /&gt;Đào Thản [1983] cho rằng có thể tìm thấy  sự tương ứng  hoặc mối quan hệ chặt chẽ giữa phần lớn các đơn vị từ vựng biểu thị thời gian  và quan hệ không gian. Chúng tôi cho rằng, lớp từ không gian xuất hiện trước sau đó chúng ta đã mở rộng  lớp từ không gian thành lớp từ thời gian. &lt;br /&gt;3.3.1 Ba từ không gian cơ bản đây, kia, đấy (và biến thể đó, ấy) được chuyển thành bộ ba  từ dùng trong những miêu tả thời gian hiện tại, quá khứ và tương lai.&lt;br /&gt; Từ đây trực chỉ không điểm  trở thành một từ trực chỉ thời điểm nói, tức là thời điểm hiện tại: “giờ đây”; “Đây là lúc non sông hùng tráng; Cờ Việt vàng son phơi phới trên trời cao”&lt;br /&gt;Này là từ trực chỉ một không điểm xác định  ở ngay hoặc rất gần nơi mà người nói nhìn thấy. Nó cũng được dùng để thay thế. Khi “này” làm định ngữ cho một từ chiếm một không gian thì nó chỉ ngay cái không gian mà người nói nhìn rất rõ đó. Chuyển sang nghĩa thời gian, khi “này” làm định ngữ cho một từ thời gian thì nó chỉ ngay cái thời điểm, thời đoạn người ta đang nói tới. Khi làm định ngữ cho một sự tình thì nó chỉ ngay cái sự tình được nói tới. Như vậy,  đây và này  cũng được chuyển thành từ được dùng để tạo thành những từ trỏ thời điểm và thời đoạn hiện tại: giờ này, tuần lễ ~;  tuần ~; tháng ~; lúc ~; hồi ~; dạo ~; khi ~; đời ~; thời ~. Này chuyển thành nay cũng dùng trỏ thời gian hiện tại, thời điểm nói: hiện nay, ngày nay, tuần nay, hôm nay, “Nay công bố quyết định”…&lt;br /&gt;Có sự khác biệt giữa này  và nay. So sánh:&lt;br /&gt;(a)    Tháng này tôi phải hoàn thành phần việc được giao.&lt;br /&gt;(b)     Cả tháng nay tôi chả làm được việc gì cả.&lt;br /&gt;Câu (a) có thể nói vào một thời điểm bất kì nào trong tháng, kể từ ngày mồng một và thời đoạn kéo dài đến ngày cuối cùng của tháng (do điểm nhìn có thể đặt ở tương lai). Trong khi đó, câu (b) chỉ có thể nói vào một ngày nào đó sắp hết tháng và “ cả tháng nay” không nhất thiết bao gồm những ngày còn lại của tháng.   &lt;br /&gt;Hai từ ấy, đó dùng để diễn đạt ý nghĩa quá khứ xa và không xác định,  theo cấu trúc “X ấy”, “X đó”: lúc ấy, năm ấy, ngày ấy, thời ấy, ngày đó,  tuần đó, hồi đó, … “Đó”, “đấy” – những  đại từ chỉ định – được chuyển thành  từ đánh dấu mốc thời gian trong quá khứ xa: Sau đó họ không gặp nhau nữa; sau đấy mọi chuyện lại vẫn như cũ…&lt;br /&gt;Từ kia chủ yếu được dùng để trỏ thời gian quá khứ:  hôm kia, năm kia, xưa kia, trước kia. Một trường hợp duy nhất kia được dùng để trỏ thời gian tương lai:  “ngày kia” - một ngày đến sau ngày hôm nay 2 ngày.&lt;br /&gt;Chừng đó không đủ dùng để miêu tả các kiểu quan hệ thời gian trong tri nhận  của người Việt (xem mục 2.4, 2.5). Tận dụng đặc điểm tiếng Việt có thanh điệu, người Việt đã tạo ra những từ cùng vần hoặc cùng phụ âm đầu với 3 từ trên dùng để miêu tả các kiểu quan hệ thời gian. Đó là  sự mô phỏng các từ trỏ không gian  để tạo ra những từ trỏ thời gian:&lt;br /&gt;Đây →  đây, bây, bây giờ&lt;br /&gt;Này →này, rày,  nay, nãy, nữa&lt;br /&gt;Đấy → đấy,  đó, ấy, bấy&lt;br /&gt;Kia  → kia,  kìa, kỉa&lt;br /&gt;    3.3.2 Những cách dùng từ ngữ trong tập hợp không gian được chuyển thành những cách dùng từ ngữ cho tập hợp thời gian. Nghĩa là, cách dùng từ ngữ  thời gian có ý nghĩa tương tự như cách  dùng từ ngữ  không gian.&lt;br /&gt;      Danh từ không gian trở thành danh từ thời gian. Ví dụ: 1)Từ “quanh” trỏ phần bao của một không gian, tạo ra sự nhận thức phủ kín không gian đó, như “quanh vùng”, từ đó tạo ra nghĩa phủ kín một thời đoạn:  quanh năm. 2) Từ “suốt” có nghĩa “liền một mạch trong không gian”: Tít báo chạy suốt trang nhất; suốt từ đầu này tới đầu kia; cưa đứt đục suốt. Từ này được chuyển sang dùng để chỉ thời gian cũng với nghĩa “liền một mạch trong thời gian”: suốt ngày, suốt buổi; suốt đời; quanh năm suốt tháng; 3) Từ “thôi” trỏ một không gian dài và liên tục: Đi một thôi thì gặp đường mòn. Từ này sẽ chuyển thành “trỏ một thời gian dài và liên tục”:  nói một thôi một hồi; “Đám trục lúa, chuyển thóc, cứ một thôi nghỉ lại tốn hào kem”. (VN, 22.01.71, t.6); 4) Khoảng cách không gian trở thành khoảng cách thời gian. Từ cách  chỉ một sự tình đã xảy ra trong quá khứ:  cách đây một tuần, cách đây vài hôm, cách đây một năm, 5) “Lát” có nghĩa là “một miếng mỏng được cắt ra”. Mỏng là ít, là ngắn về thời đoạn. Cái miếng mỏng này được chuyển thành “khoảng thời gian rất ngắn” trong tương lai: Nghỉ một lát, người bố nói tiếp.  6) “Chút” có nghĩa là “một lượng rất nhỏ, không đáng kể”. Cái lượng rất nhỏ này cũng được chuyển thành “khoảng thời gian rất ngắn” trong tương lai: nghỉ một  chút; chờ chút nữa  đi;  chỉ chút xíu  nữa là tôi quên mất.&lt;br /&gt;Tính từ trỏ độ lớn không gian trở thành tính từ trỏ độ lớn thời gian: dài, ngắn, rộng, hẹp, như: một ngày đêm dài 24 tiếng, ngày rộng tháng dài, thời gian eo hẹp, … Từ mau không gian (lược mau; mưa mau hạt) trở thành từ mau thời gian:  em đi chàng theo sau, em không dám đi mau; tiếng khoan như gió thoảng ngoài, tiếng mau sầm sập như  trời đổ mưa (TK); “gần” là một từ chỉ một khoảng cách không gian không xa, “gần đây” chỉ một khoảng cách không xa vị trí của người nói được chuyển thành một thời điểm không xa lúc nói, như “mấy ngày gần đây”, “gần đây dư luận xôn xao về vụ X”…&lt;br /&gt;Nữa, có ý nghĩa bổ sung, thêm vào về số lượng ( thêm đoạn nữa, cho thêm tí nữa đi, người nữa, một tờ nữa) chuyển sang nghĩa thời gian thành thời gian bổ sung, cộng thêm vào, vậy là thời gian đến sau. Từ đó,  nó có ý nghĩa tương lai: lát  nữa,  chốc nữa, mấy hôm nữa, tuần nữa, ba năm nữa…&lt;br /&gt;Động từ chuyển động trong không gian trở thành động từ chuyển động trong thời gian: Rồi- chỉ sự kết thúc của một hoạt động nghĩa là hoạt động đó đã xảy ra trong quá khứ: làm rồi, ăn rồi, đến nơi rồi. Từ ý nghĩa này, từ rồi được dùng  để trỏ thời gian quá khứ: vừa rồi, tuần  rồi, tháng rồi, năm rồi, “Lâu rồi không thấy bác lại chơi”…&lt;br /&gt;3.4 Vai trò của ẩn dụ “thời gian là một đối tượng chuyển động” trong việc hình thành lớp từ vựng  thời gian của tiếng Việt&lt;br /&gt;3.4.1  Từ định hướng không gian tới định hướng thời gian&lt;br /&gt;Con người có định hướng không gian trước – sau  và dùng hai giới từ TRƯỚC, SAU  để định hướng . Từ đó  trục không gian  được  sắp xếp theo trật tự:  TRƯỚC – ĐÂY – SAU. Những quan hệ không gian trước – sau sẽ chuyển thành những quan hệ của những sự tình xảy ra trước và xảy ra sau, tức là những sự tình xảy ra trong quá khứ và tương lai.  Trục này tương ứng với trục thời gian quá khứ - hiện  tại – tương lai  vì thời gian đến trước là thời gian thuộc về quá khứ, thời gian đến sau thuộc về  tương lai. Và các từ trước, đây, sau lần lượt trở thành những từ dùng trong những miêu tả  quá khứ, hiện tại và tương lai.&lt;br /&gt;    Gọi A là một từ trỏ thời gian. “Thời gian A đến trước” sẽ thuộc về  quá khứ. Cấu trúc “A đến trước” được rút gọn thành  “A  trước”, một cấu trúc trỏ thời gian A thuộc quá khứ: giờ trước;  ngày ~; bữa ~; hôm ~; tuần ~; tháng ~; năm ~; ban ~; lúc ~; hồi ~; dạo ~; thuở ~; khi ~; đời ~; thời ~. Thời gian của sự tình “đến trước thời điểm đấy, đó trong quá khứ hoặc thời điểm  đây hiện tại” cũng sẽ thuộc về quá khứ. Chúng ta nói gọn lại là “thời gian tới trước lúc đấy, lúc đó, lúc đây”. Cuối cùng được  rút gọn thành “trước đấy”; “trước đó”;  “trước đây”; “Thời gian tới gần lúc đây” được rút gọn thành “gần đây”. Cũng theo cách rút gọn như vậy, chúng ta nói: trước giờ này, trước tuần  này ;  trước ngày này; trước tháng này; trước lúc này. Hoàn toàn tương tự, thời gian chuyển động đến sau thời điểm, thời đoạn hiện tại sẽ thành thời gian tương lai: sau lúc đây → sau đây; sau lúc này → sau này; sau giờ này, sau  tuần  này;  sau  ngày này; sau ba ngày nữa; sau tháng này…&lt;br /&gt;     Tương tự , cấu trúc “A  sau” là một cấu trúc trỏ thời gian A thuộc tương lai: giờ sau;  ngày ~; bữa ~; hôm ~; tuần ~; tháng ~; năm ~;  lúc ~; hồi ~; đời ~; thời ~.&lt;br /&gt;    Lưu ý về sự khác biệt sắc thái giữa trước và cách. Ví dụ: “Trước đây một tuần” và “Cách đây một tuần”. Dùng ẩn dụ thời gian là một đối tượng chuyển động, nên “Trước đây một tuần” là lối nói nhấn mạnh  tới sự vận động của thời gian. Trong khi đó,  “Cách đây một tuần” nhấn mạnh  tới độ chính xác về khoảng cách thời gian. Cũng lí do trên, chúng ta nói được “lúc trước” nhưng không thể nói “*lúc cách”.&lt;br /&gt;Do thời gian là một đối tượng chuyển động nên những từ ngữ đặc biệt chỉ “độ lớn” và “tốc độ” chuyển động cũng chỉ  thời gian đã xảy ra, tức là thời gian trong quá khứ: lâu, mau, loáng, nhoáng, thoáng, chóng, chày, thoắt, ù, vèo,… như: thoắt cái đã biến mất; ý nghĩ thoáng qua trong đầu; chạy ù về nhà; đạn vèo qua bên tai…&lt;br /&gt;Thời gian là một đối tượng chuyển động nên có đầu có cuối: đầu tuần, đầu năm, đầu giờ, cuối buổi…Đặt trong một phát ngôn thể hiện những hành vi cụ thể, những tổ hợp trên sẽ tạo ra ý nghĩa thời gian cụ thể. Khi nghe “Cuối buổi sáng nay, mời ông quay lại đây”, “Đầu giờ chiều nay, mời ông quay lại đây”…  Hành vi đề nghị “mời thực hiện một việc” cho biết việc này xảy ra trong tương lai. (xem §4)  Vậy “cuối buổi sáng nay”, “Đầu giờ chiều nay” là những thời gian  trong tương lai.&lt;br /&gt;3.4.2  Khuôn tạo từ  không gian chuyển thành khuôn tạo từ thời gian&lt;br /&gt;Chúng ta chuyển động trong không gian từ gốc A tới đích B theo khuôn “từ A đến (/tới/ra/sang…) B”. Từ đó hình thành hàng loạt từ ghép AB, như trên dưới, trước sau, sau trước, phải trái.&lt;br /&gt;Thời gian cũng là một đối tượng chuyển động từ gốc A tới đích B và cũng theo khuôn “từ A đến (/tới/ra/sang…) B”.  Từ đó cũng hình thành hàng loạt từ ghép biểu hiện thời gian AB thuận theo chuyển động tự nhiên của thời gian, như sáng chiều, chiều tối, tối khuya, tối đêm,  khuya sớm, sớm muộn…&lt;br /&gt;4. Sự chuyển nghĩa không gian thành nghĩa thời gian&lt;br /&gt;4.1 Điểm nhìn hay là thời điểm nhìn&lt;br /&gt;Các từ trước ; đây/này ; sau  phân đoạn thời gian thành quá khứ  –  hiện  tại – tương lai chỉ là phân đoạn qui ước theo thời điểm nói hiện tại.  Dùng trước đây để chỉ thời gian trong quá khứ, còn sau đây, sau này để chỉ thời gian trong tương lai. Trong thực tế sử dụng tiếng Việt, nếu như người nói luôn luôn sử dụng điểm nhìn  để định vị các từ ngữ trong không gian thì người nói cũng sử dụng điểm nhìn – thời điểm nhìn - để  chuyển những phân đoạn thời gian qui ước theo thời gian của điểm nhìn, và như vậy có thể khác với thời gian qui ước. Điểm nhìn sẽ tạo ra “không gian điểm nhìn” hay là “không gian tâm thức” (mental space) theo quan niệm của G. Fauconnier, x.[25]. Đại từ  thay thế này, các tổ hợp từ trỏ thời gian “X đây ”, “X đó”;  “X đấy”; “X này ” có thể dùng để biểu hiện thời điểm nhìn.&lt;br /&gt;Chúng ta minh họa qua một vài ví dụ. Một bài hát có lời  “ngày này năm xưa em còn bé tí teo; ngày này năm xưa em bé như con mèo. Ngày này năm nay không còn bé tí teo...” Lúc chúng ta kéo “ngày này” về quá khứ năm xưa, lúc lại kéo nó trở lại hiện tại năm nay. Bình thường  sau này, về sau  để chỉ thời gian trong tương lai như “Sau này hẵng hay”, nhưng nếu lấy một thời điểm nhìn trong quá khứ thì sau này, về sau  vẫn có thể chỉ một sự kiện trong quá khứ:&lt;br /&gt;“Trước đây tôi cứ đơn giản nghĩ rằng  sau này tình hình sẽ tốt đẹp hơn, nhưng thực tế không phải vậy.”&lt;br /&gt;     Thời điểm nói câu trên là hiện tại. Nhưng thời điểm nhìn khi nói câu (1) được đặt vào một thời đoạn quá khứ  “trước đây”. Lúc đó tôi nghĩ  trong tương lai “sau này”.  Nghĩa là từ sau này được đặt trong phạm vi tác động của trước đây, nên nó trở thành quá khứ.&lt;br /&gt;Sau này tôi mới hiểu đó là lời nói đùa.&lt;br /&gt;Thời điểm nói câu (2) cũng  ở hiện tại. Bình thường, trạng ngữ thời gian sau này  trỏ sự tình xảy ra trong tương lai, nhưng từ “mới” trong câu (2) cho biết “tôi đã hiểu” vào thời điểm sau này. Nghĩa là sự tình “tôi hiểu” đã xảy ra trong quá khứ, nghĩa là vào thời điểm sau này.   Suy ra thời điểm nhìn của sau này đã đặt ở quá khứ.&lt;br /&gt;         Như vậy:&lt;br /&gt;Sau này, sau khi  có thể biểu hiện một sự tình trong tương lai: sau này con sẽ hiểu; Sau khi tôi nói xong, các bạn sẽ phát biểu.&lt;br /&gt; Sau này, sau khi cũng có thể biểu hiện một sự tình trong quá khứ: “Sau này tôi mới hiểu ra ý của ông ấy”; “Cô bỏ chìa khóa vào túi sau khi khóa cửa”.&lt;br /&gt;    Từ rồi để trỏ điều vừa nói đến đã được thực hiện, nghĩa là nó trỏ một sự tình đã xảy ra trong quá khứ: “Bà không về nữa rồi”. Nhưng nếu đặt thời điểm nhìn ở tương lai thì sự tình vẫn xảy ra trong tương lai:  “Sáng mai bà không về nữa rồi” (Cây sồi mùa đông, truyện dịch); “Anh hãy ở lại chơi với anh Ba một ngày nữa. Mai anh ấy  đi rồi.”&lt;br /&gt;(4) Thứ năm tuần sau vào giờ này chúng ta lại gặp nhau nhé!&lt;br /&gt;Cái “giờ này” không còn  ở thời hiện tại. Chúng ta đã chuyển  nó đến thời điểm nhìn vào một ngày trong tương lai. Đó là thứ năm tuần sau.&lt;br /&gt;(5) Trước đó, tôi luôn luôn nghĩ mình đúng.&lt;br /&gt;(6) Sau đó, tôi chỉ im lặng.&lt;br /&gt;Ở hai câu cuối, người nói đã chuyển thời điểm nhìn về trước hoặc sau thời gian “đó” trong quá khứ. Vậy các sự tình đã xảy ra.&lt;br /&gt; 4.2 Các đơn vị thời gian của người Việt &lt;br /&gt;        Lịch thời gian của người Việt theo mặt trăng. Sau này cũng dùng lịch theo mặt trời, nên có những cách dùng và những đơn vị thời gian pha trộn.&lt;br /&gt;Đời, kiếp,  tuổi là khoảng thời gian sống, thời gian tồn tại của một sinh vật. Chúng  có đơn vị thời gian là năm.&lt;br /&gt;Đơn vị của năm là tháng. Đơn vị của tháng là ngày (chứ không phải là hôm). Đơn vị của ngày là  giờ, khắc. Đơn vị của giờ là phút.&lt;br /&gt;Hết một năm, người Việt có thói quen điểm lại những sự việc được mất, may rủi trong năm qua. Đó là lúc sắp sang năm mới người ta ngoái nhìn lại một năm đã qua,  từ những ngày đầu tới ngày cuối. Vậy là hình thành cách nói năm ngoái, tức là  năm qua. Người Việt không có thói quen tổng kết; không có thói quen nhìn lại  sau một tháng, một tuần và lại càng không phải sau một ngày. Vì vậy, không có cách nói *tháng ngoái, *tuần ngoái, *ngày ngoái. Năm là đơn vị thời gian duy nhất trong cuộc đời mà người ta ngoái  nhìn lại.&lt;br /&gt;Trước đây, với người Việt theo phép đo đạc thời gian can chi cổ truyền của Trung Quốc, thiên can (10 can: giáp, ất, bính, đinh,…) và địa chi (12 chi: tý, sửu, dần , mão,…). Mưa không qua ngọ , gió chẳng qua mùi; Đêm 5 canh, ngày 6 khắc; Tấm phải làm luôn canh (Truyện Tấm Cám); Nửa đêm, giờ tý, canh 3; Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm (cd);  Như vậy, độ dài của canh và khắc khác nhau: canh = 1/5 đêm; khắc1 = 1/6 ngày  (cần phân biệt với khắc2 = ¼ giờ = 15 phút)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;     4.3 Phân cắt thời gian&lt;br /&gt;Người Việt lưỡng phân ngày/đêm. Một ngày được phân thành những thời đoạn sáng, sớm,  trưa, chiều, tối, đêm. Các thời đoạn này có thể được  phân nhỏ hơn nữa nhưng với ranh giới không rõ ràng. Chúng ta gặp tờ mờ sáng, sớm, sáng, sáng sớm, trưa, xế trưa, chiều, xế chiều, chập tối, nhá nhem tối,  tối, khuya. Tên chung cho những đơn vị này, tức “loại từ” thời gian, là ban, buổi, bữa. Ban sáng/ ~ trưa, ~ chiều, ~ tối, ~ đêm. Buổi sáng, ~ trưa, ~ chiều, ~ tối. Bữa sáng, ~ trưa, ~ chiều,  ~ tối.&lt;br /&gt;Sự khu biệt của chúng như sau:&lt;br /&gt;Ban có thể kết hợp với nãy để chỉ quá khứ gần, còn buổi  và bữa thì không: Nói ban nãy,  nhưng không nói  *buổi nãy, *bữa nãy.&lt;br /&gt;Buổi nhấn mạnh  tới công việc. Với ý nghĩa này, không thể thay buổi bằng ban, như: buổi làm; nghỉ mất buổi học; ngày hai buổi  đến trường; học Anh văn buổi đực buổi cái; buổi chợ (gái thương chồng đang đông buổi chợ). Hầu như không nói *buổi đêm (vì người xưa không có buổi làm việc vào đêm); thời buổi gạo châu củi quế này.&lt;br /&gt;Người Việt cũng phân chia thời gian  trong ngày theo những bữa ăn nhất định.  Bữa thành một đơn vị thời gian: bữa trước; bữa sáng;  dăm bữa nửa tháng; bữa qua; &lt;br /&gt;     Có sự phân biệt giữa  sáng và  sớm:&lt;br /&gt;Sáng - có nhiều ánh sáng khiến trông rõ. Sáng đối lập với  tối.&lt;br /&gt;Sớm – thời điểm, thời đoạn đến trước trong ngày. Phái sinh của nghĩa này là  đến trước thời hạn (lấy chồng sớm làm gì/để lời ru thêm buồn).  Sớm đối lập với  muộn.&lt;br /&gt;Người Việt có nhận thức về những sự kiện được lặp lại theo chu kì, thành một vòng  thời gian tuần hoàn, với tên gọi là tuần. Đó là tuần trăng, tuần nhang, tuần chay… Trong tuần trăng lại phân thành thượng tuần, trung tuần, hạ tuần.&lt;br /&gt;Khái niệm “cúng tuần” trỏ việc  cúng  vào một số ngày là bội số của 7:  cúng 7 ngày, cúng 21 ngày, cúng 49 ngày.&lt;br /&gt;Khái niệm “tuần lễ” xuất hiện khi đạo Cơ đốc truyền vào Việt Nam. Người Việt thấy rằng cứ sau một chu kì 7 ngày, giáo dân lại tới nhà thờ làm lễ, nên gọi cái chu kì này là tuần lễ.&lt;br /&gt;Những  chu kì thời gian theo thuyết luân hồi của đạo Phật: đờì, kiếp. Một vòng đời; một kiếp người…&lt;br /&gt;4.4 Người Việt không đo đạc, ước lượng chính xác thời gian &lt;br /&gt; 4.4.1 Trong tiếng Việt nhiều  từ ngữ đo lường thời gian không chính xác. Thời đoạn là một quá trình có thể đo đạc, ước lượng được. Nhưng có những thời đoạn không xác định:  chốc, chút , lát, dạo,  giấc là những  thời đoạn không có độ dài xác định nên không thể kết hợp với số từ và cũng không thể đo thời đoạn đó lâu hay mau. Nghĩa là không thể nói  *năm chốc; *hai chút; *ba lát, * 4 dạo, *lát lâu, *chốc mau. Chỉ có thể nói một chút, một lát, một dạo; đôi chút; chẳng mấy chốc.... như là những quán ngữ trỏ toàn khoảng thời đoạn.&lt;br /&gt;     Có mối quan hệ chuyển biến giữa thời đoạn (có độ dài) và thời điểm (không có độ dài): Khi thời gian quá xa, càng xa càng khó nhìn thấy cả một đoạn, nên thời đoạn dần dần trở thành thời điểm. Trong cách nói  “Năm tôi ra đời” thì “năm”  chỉ thời điểm. Còn “thuở” chỉ một  thời điểm rất xa: “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”. Cả đời người cũng có thể trở thành thời điểm: “Trên hành tinh có 5 tỉ tuổi như Trái đất thì đời người chỉ là chất điểm, quá ngắn ngủi ” (TT, 26.7.2009). &lt;br /&gt;Đơn vị đo thời đoạn “hồi” chỉ một quá trình hoạt động liên tục này khá co giãn: hồi trống, hồi chuông, gió rít từng hồi; “trống đánh ba hồi  đã thấy quan”. Hồi chuyển thành một từ trỏ thời đoạn:  hồi lâu, hồi chiều, hồi hôm, hồi trẻ. Còn giấc – khoảng thời gian ngủ - cũng được dùng để đo thời đoạn: Cứ giấc trưa là nó về; vào giấc này đường vắng. (TĐTV)&lt;br /&gt;    Với người Việt: thời gian  gần thì dễ xác định, thời gian  xa thì khó xác định.  Với 10 ngày đầu tháng, chúng ta đo chính xác bằng loại từ mồng/mùng. Nhưng từ ngày thứ 11 trở đi không có loại từ cho những ngày này. Không nói được *mồng 11, *mồng 25…&lt;br /&gt;Ước lượng  thời gian ban  ngày  theo vị trí  của mặt trời: mặt trời đã lên khỏi ngọn tre/lên một con sào; mặt trời đã đứng bóng (= giữa trưa), mặt trời sắp lặn rồi.&lt;br /&gt;Theo một bài đồng dao thì người Bắc Bộ đo ngày  trong tháng theo mặt trăng.&lt;br /&gt;Những ngày đầu tháng, đo theo hình thức của mặt trăng: “mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa, mồng ba lưỡi liềm, mồng bốn câu liêm, mồng năm liềm giật, mồng sáu thật trăng”.&lt;br /&gt;-  Những ngày từ giữa  tháng trở đi:  đo theo công việc liên quan đến giờ trăng lên: “Mười bẩy sẩy giường chiếu; mười tám nhám trấu; mười chín rụn rịn (?) nụ cười, hai mươi giấc tốt, hăm mốt nửa đêm”.&lt;br /&gt;- Không đo được thời gian trăng lên cho những ngày cuối cùng trong tháng: “hăm nhăm đã vậy, hăm sáu làm sao, hăm tám thế nào, hăm chín thế ấy. Ba mươi không trăng”. &lt;br /&gt;      4.4.2 Người Việt phân biệt nhiều trạng thái thời gian quá khứ  hơn là trạng thái thời gian trong hiện tại và tương lai. Có thể nguyên do là những điều đã biết, đã xảy ra thì dễ thấy  hơn và do vậy dễ phân biệt được nhiều hơn những điều dự đoán.&lt;br /&gt;    Để tạo ra cách nói thể hiện thời gian trong quá khứ, chúng ta có những 10 từ ấy, nãy, đó, nọ, kia, qua, trước, rồi, ngoái, xưa. Trong khi đó chỉ có hai từ này, nay chỉ thời điểm nói, nên chúng thể hiện thời hiện tại (và từ đây trong cách nói duy nhất giờ đây). Để chỉ thời gian trong tương lai có các từ sau, tới  và nữa (và duy nhất có  phân biệt 3 ngày trong tương lai mai, mốt, kia). Những từ ngữ cụ thể, xem §4.5.2.&lt;br /&gt;4.5  Biểu hiện phạm trù thời gian qua  từ vựng và các tổ hợp từ vựng  &lt;br /&gt;4.5.1 Đó là các từ:&lt;br /&gt;- có nguồn gốc không gian:  đây, nay, này, nãy, ấy, đó, nọ, kia&lt;br /&gt;-  có nguồn gốc từ ẩn dụ thời gian chuyển động: qua, tới, trước, sau&lt;br /&gt;- các từ chỉ thời đoạn: ban, hồi, lúc, lát, độ, cữ&lt;br /&gt;- có  nguồn gốc từ những  từ chứa một tiền giả định về thời gian: rồi, mai, mốt, ngay, liền, mới, vừa, định, toan , chực &lt;br /&gt;4.5.2  Tạo ý nghĩa thời gian qua biện pháp tổ hợp từ ngữ thời gian&lt;br /&gt;Đây là cách tổ hợp các từ chỉ định không gian, các từ thời đoạn, các tính từ (lâu, xưa) và các từ thời gian. Người Việt có phân biệt  thời gian gần và  thời gian xa. Những ý nghĩa này liên quan trực tiếp tới thuộc tính của những từ trong các tổ hợp từ ngữ thời gian .&lt;br /&gt;Những từ trỏ không điểm gần (đây, này và biến thể nay, nãy) sẽ tạo ra thời gian gần. Những từ trỏ không điểm xa (đấy, ấy, đó,  nọ, kia) sẽ tạo ra thời gian xa.&lt;br /&gt;Dùng từ đây để tạo ra cụm từ mang ý nghĩa quá khứ bằng cách nhìn nhận “khoảng cách thời gian chuyển động cho tới lúc đây”, tức là  cách đây:  cách đây 1 tuần, cách đây không lâu… Dùng từ sau (với ẩn dụ  ẩn dụ thời gian là một đối tượng chuyển động) sẽ tạo ra ý nghĩa tương lai “Sau 15 ngày nữa mới hết hạn”, hôm sau, tuần sau,…Từ thời đoạn X nào đứng trước SAU, tức là “X (đến) sau”,  sẽ là thời đoạn đến sau:  lúc sau, lát sau, hồi sau, hôm sau… Nếu điểm nhìn của sau đặt ở quá khứ thì chúng  trở thành thời gian quá khứ xảy ra trước hiện tại và sau lúc SAU. Nếu điểm nhìn của phát ngôn ở hiện tại thì chúng trỏ  thời gian  trong tương lai. Tương tự, từ thời đoạn X nào đứng trước TRƯỚC, tức là “X (đến) trước”, sẽ là thời đoạn đến trước: lúc trước, hồi trước, hôm trước, ngày trước…Chúng đều  trỏ thời gian trong quá khứ.&lt;br /&gt;      Con người trưởng thành theo chuyển động thời gian nên lớn lên  (sẽ hiểu) là cách diễn đạt tương lai không xác định.&lt;br /&gt;    Để tạo ra ý nghĩa “tương lai gần” có những cách sau:&lt;br /&gt;- Kết hợp đây  với sau, thành “sau (lúc) đây”, sẽ tạo ra ý nghĩa “tương lai gần nhất, ngay sau thời điểm hiện tại”:sau đây, ngay sau đây&lt;br /&gt;- Nữa có nghĩa là “bổ sung, thêm vào”. Mà “bổ sung, thêm vào” thì không nhiều. Thời gian thêm vào là thời gian trong tương lai. Vậy nữa cũng là một chỉ tố tương lai gần. Các từ chỉ thời đoạn ngắn lát, chốc  kết hợp với  nữa sẽ mang ý nghĩa tương lai gần: lát nữa, chốc nữa. &lt;br /&gt;Để tạo ra ý nghĩa “quá khứ  gần” có những cách sau:&lt;br /&gt;-   Từ qua trỏ một đơn vị  thời gian chuyển động ở thời điểm liền trước hiện tại nên nó là  một chỉ tố biểu hiện thời gian quá khứ liền kề với hiện tại. Những thời đoạn kết hợp với qua sẽ  tạo ra ý nghĩa quá khứ gần (tính theo thời đoạn đó): giờ qua, bữa qua, hôm qua, ngày qua, tuần qua, tháng qua, năm qua, hồi qua, đời qua (và từ ngoái  cho đơn vị năm: năm ngoái).&lt;br /&gt;- Nãy dùng với ý nghĩa một chỉ tố thời gian quá khứ gần, do nãy  là phái sinh của này – một từ chỉ không điểm ở ngay chỗ người nói.  Nữa đối lập với nãy trong quan hệ  tương lai – quá khứ. Chúng ta có  cách nói “lát nữa”, “chốc nữa” để chỉ tương lai gần (mà không có “*lát nãy”, “*chốc nãy”). Còn các từ chỉ thời đoạn,  thời điểm ban, hồi, lúc, khi  kết hợp với nãy sẽ tạo ra cụm từ trỏ thời gian trong quá khứ gần: ban nãy, lúc nãy, hồi nãy,  khi nãy, vừa nãy…&lt;br /&gt; Để trỏ một quá khứ chưa xa, chúng ta có gần đây - khoảng cách  gần ngay thời điểm hiện tại “đây”,  rồi, trước (hôm rồi, hôm trước, bữa rồi, bữa trước, năm rồi, năm trước, tuần rồi, tuần trước…)&lt;br /&gt; Từ kia trỏ  thời gian không liền kề với thời gian hiện tại mà cách 2 đơn vị (bữa kia, hôm kia, ngày kia, năm kia) nên hình thành nét nghĩa “thời điểm ở xa” trong quá khứ hoặc tương lai của kia.  Quá khứ xa: trước kia; trước đây; cho đến lúc ấy, tôi vẫn chưa hiểu ông ta/(điều này). Từ xưa  có nghĩa là cũ. Cái xưa cũ trước thời điểm kia  sẽ là rất xa, xa hơn nữa: xưa kia trỏ quá khứ rất xa. Để trỏ quá khứ rất xa còn có  “ngày xưa”.&lt;br /&gt;Tương tự, đấy, đó chỉ không điểm cách xa người nói nên khi dùng đấy, đó (và biến thể ấy, nọ) chỉ thời điểm nó cũng chuyển thành ý nghĩa “thời điểm ở xa” trong quá khứ: ngày đó, ngày ấy, ngày nọ, hồi đó, dạo ấy, thời đó, thuở ấy, năm xưa/ấy … Vì thời gian ở xa thì khó nhìn rõ, khó xác định nên những cách nói trên không có thời điểm xác định trong quá khứ. Lượng từ một trỏ sự không xác định của đối tượng mà nó đi kèm. Vậy nên một hôm trỏ một ngày không xác định trong quá khứ và cũng trở thành một cụm từ  chỉ quá khứ xa.&lt;br /&gt;     Thời gian  trong tương lai :  nay mai, mai kia, mai sau&lt;br /&gt;     Dùng phụ từ  thời gian biểu hiện thời gian  quá khứ và tương lai. Phân biệt nọ/ kia: Nọ luôn luôn chỉ quá khứ. Còn kia, tùy theo từ mà nó đi kèm, ngày hay  hôm, sẽ chỉ tương lai hay quá khứ: ngày kia trỏ thời điểm  trong tương lai cách  hiện tại một ngày; hôm kia trỏ thời điểm  trong quá khứ cách  hiện tại một ngày. Để trỏ 3 ngày liên tiếp sau ngày kia, chúng ta có 3 từ  ngày kìa, ngày kỉa, ngày kĩa. Thậm chí ngày kịa  là ngày xảy ra tiếp theo sau nữa.&lt;br /&gt;Tương lai xa:  sau này; một  ngày kia, đời sau, kiếp sau.  Không  nói “*sau kia”, nên kia không phải là một đại từ chỉ định tạo ra một mốc thời gian.&lt;br /&gt;Các từ ghép thời gian được tổ hợp  theo trật tự quan hệ  trước-sau: năm tháng, ngày giờ, giờ phút; phút giây. Nhưng cũng nói giây phút. Vậy phải chăng  người Việt không tri nhận  sự khác biệt giữa những đơn vị thời gian quá nhỏ phút  và giây?&lt;br /&gt;Dùng từ xác định (nọ), từ phiếm định  (nào) để tạo ra sự phân biệt thời gian: hôm nào, ngày nào  trỏ tương lai; hôm nọ, ngày nọ  trỏ quá khứ . Lưu ý: Trong câu hỏi, điểm hỏi có thể đặt ở quá khứ, nên  hôm nào, ngày nào  có thể dùng để hỏi một thời điểm ở quá khứ: Chuyện ấy xảy ra hôm nào?&lt;br /&gt;Để tạo ra một thời điểm, thời đoạn  không xác định trong tương lai, có cách dùng  một từ trỏ thời điểm, thời đoạn A kết hợp với nào theo cấu trúc: “A nào + thuộc tính”: Hôm nào, dịp nào  rảnh, anh ghé chơi; Hôm nào tiện tôi sẽ lại thăm anh ấy.&lt;br /&gt;4.5.3 Trong tiếng Việt tồn tại những động từ tình thái có tiền giả định đòi hỏi về thuộc tính thời gian chưa xảy ra hoặc đã xảy ra của động từ trung tâm ở phần bổ ngữ của nó.&lt;br /&gt;    Mới, vừa, rồi  - động từ trung tâm đã xảy ra.&lt;br /&gt;    Định, toan, chực,…- động từ trung tâm chưa xảy ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.4  Phạm trù thời gian tức thì: ngay&lt;br /&gt;Ông ta hay ăn nói xa xôi, nhiều khi tôi không hiểu ngay. (Câu này có thời điểm  nhìn trong quá khứ; còn nhiều khi trỏ sự lặp lại trong quá khứ.)&lt;br /&gt;4.5.5 Phạm trù thời gian sự tình  lặp lại:  Phương thức dùng lượng từ&lt;br /&gt;4.5.4.1 Cấu trúc “A khi X”, “A lúc X”, ở đó A = nhiều, ít, lắm, mọi, mỗi, luôn luôn trỏ sự tình X đã xuất hiện, nghĩa là đã xảy ra trong quá khứ, với mức độ lặp lại là A. Có những phân biệt sau:&lt;br /&gt;“Mọi khi X”. Cấu trúc này có nghĩa  “trong quá khứ luôn luôn xảy ra X”.  và có tiền giả định “hiện nay không X”&lt;br /&gt;“Mỗi  khi X (thì Y)”. Cấu trúc  này nêu một qui luật về quan hệ nhân quả giữa X và Y: Trong quá khứ, ở tất cả các trường hợp  xảy ra X thì cũng đều xảy ra Y.  Cấu trúc này được rút gọn thành “Mỗi  khi X,  Y”.&lt;br /&gt;“Lắm khi(/lúc) X”, “nhiều khi (/lúc) X ”, “ít khi X”. Cấu trúc này có nghĩa “X đã xảy ra lắm lần, nhiều lần, ít lần trong quá khứ”&lt;br /&gt;“Có khi X”. Từ có chỉ sự tồn tại. Vậy cấu trúc này có nghĩa là “X đã từng xuất hiện trong quá khứ”.&lt;br /&gt;4.5.4.2 Dùng từ mấy, một lượng từ phiếm định biểu thị một số lượng ít, để    biểu hiện quá khứ gần theo cấu trúc “mấy – đơn vị thời gian + nay/sau/nữa”. Ở đó, “Mấy – nay” biểu thị quá khứ  gần (theo đơn vị thời gian) cho đến hiện đại: mấy hôm(/ngày/ năm/ tháng) nay trời mưa tầm tã.&lt;br /&gt;“Mấy – sau”  biểu hiện thời điểm nhìn trong quá khứ và sự tình xảy ra trong quá khứ: mấy hôm/ngày sau trời mưa tầm tã; “Lão ta thù dai, tôi nói sơ ý một chút mà mấy tháng sau lão ta vẫn còn giận”.&lt;br /&gt;Vì nữa là chỉ tố tương lai gần ( §4.5.2) nên  mấy… nữa   biểu hiện thời điểm nhìn trong tương lai và sự tình cũng xảy ra trong tương lai gần (theo đơn vị thời gian):  Mấy ngày nữa trời sẽ mưa tầm tã cho mà xem.&lt;br /&gt;Cần chú ý tới vai trò của từ mấy. Trong khi ngày nay trỏ thời hiện đại thì mấy ngày nay trỏ quá khứ gần cho đến hiện tại.&lt;br /&gt; 4.5.5  Phạm trù thời gian sự tình liên tiếp, tiếp diễn:  từ tình thái liền , luôn luôn&lt;br /&gt;Trong cấu trúc: “đơn vị thời gian + liền”, từ liền biểu hiện sự liên tục về thời gian trong thời điểm nhìn. ( cấu trúc này không chấp nhận  những câu không có đơn vị thời gian). Ví dụ:  Mùa mất mấy năm liền. (*mùa mất mấy năm liền); Tôi mất ngủ mấy ngày liền. (*tôi mất ngủ mấy ngày liền); Phải uống 3 tuần liền mới hết bệnh. (*Phải uống 3 tuần liền mới hết bệnh)&lt;br /&gt;Từ luôn luôn biểu hiện sự tình  thường xuyên xảy ra trong quá khứ: “Dạo này cô ấy luôn luôn vắng nhà”&lt;br /&gt;4.5.6 Tạo ý nghĩa thời gian qua cấu trúc cú pháp&lt;br /&gt;4.5.6.1 Để chỉ một thời đoạn khá xa xảy ra trong quá khứ và kéo dài cho đến hiện tại, chúng ta dùng lối nói con người chuyển động trong không gian “Từ A đến B” để thành “Từ bấy đến nay”, “Từ bấy lâu đến nay”, “Từ lâu đến nay”, “Từ trước đến nay”, “Từ trước đến đây”,  “Từ xưa đến nay”, “Từ nãy  đến giờ”… sau đó rút gọn cặp từ …đến và còn lại bấy nay, bấy lâu nay, lâu nay, trước nay, trước đây, xưa nay, nãy giờ…&lt;br /&gt;4.5.6.2 Một trong những đặc điểm tri nhận  của người Việt là lấy hai cực điểm làm mốc để tạo ra một phán đoán khái quát, tổng thể. Thật vậy:&lt;br /&gt;Những cách nói có ý nghĩa tổng thể,  khái quát liên quan đến không gian: đầu đuôi câu chuyện; đầu làng cuối xóm; trước sau như một; thượng vàng hạ cám (hai cực trên dưới); “Làm trai cho đáng nên trai,/Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên” (hai cực đông tây), “Trong  Nam ngoài Bắc, ai cũng biết vụ này” (hai cực Bắc Nam)&lt;br /&gt;Những cách nói có ý nghĩa tổng thể,  khái quát liên quan đến thời gian và do vậy đúng với mọi thời điểm:  Xưa nay lệ này không thay đổi;  trước nay công việc vẫn vậy; trước sau  gì cũng thế thôi.&lt;br /&gt;4.5.6.3 Trong tiếng Việt có những cặp từ hô ứng phiếm định – xác định  để tạo ra những phán đoán khái quát bao-bấy; nào-ấy; nào-đó; đâu-đấy; đâu-đó. Các phán đoán khái quát về thời gian cũng theo khuôn này. Một mặt, để tạo ra phán đoán khái quát có thể dùng cặp phiếm định – xác định “bao … bấy” theo mô hình “bao X … bấy X”, hoặc “nào … ấy/đó”  theo mô hình “X nào … X ấy/đó” . Mặt khác, thời gian chuyển động và các sự tình hữu quan được nhắc tới không vô tình  đi liền kề nhau mà có quan hệ nhân quả, nên những phán đoán này một cách khái quát cũng nêu quan hệ nhân quả giữa hai sự tình được nhắc tới. Do vậy, cấu trúc “bao X … bấy X”  luôn luôn trỏ một phán đoán nhân quả khái quát nên ta có thể chêm từ thì  với chức năng liên kết  nhân quả - xen vào cặp phiếm định – xác định. Sự xuất hiện từ thì dẫn tới một hệ quả là từ “bấy” không cần thiết nữa cho quan hệ hô ứng nhân quả nữa. Và lúc này  có thể lược bấy, rồi tiếp tục lược bỏ thì.&lt;br /&gt;Tập hợp:  X = nhiêu, trỏ số lượng. “Bao nhiêu người bấy nhiêu ý kiến ”&lt;br /&gt;Thời gian:  X=  giờ,  trỏ thời gian. Bao giờ có bằng tiến sĩ  bấy giờ tôi mới nghĩ tới chuyện lập gia đình. → Bao giờ có bằng tiến sĩ  thì tôi mới nghĩ tới chuyện lập gia đình. → Bao giờ có bằng tiến sĩ,  tôi mới nghĩ tới chuyện lập gia đình.&lt;br /&gt;Tập hợp: X = một đối tượng nào đó: “người nào làm người ấy chịu”; “ăn cây nào, rào cây ấy”&lt;br /&gt;Thời gian : X= khi, lúc. Tương tự, cấu trúc “X nào … X ấy/đó”   luôn luôn trỏ một phán đoán nhân quả khái quát. Giống như cấu trúc “bao X … bấy X”, ở cấu trúc này cũng  có thể chêm từ thì xen giữa cặp phiếm định – xác định. Và lúc này  từ xác định “X ấy” cũng có thể lược đi. Ví dụ: “Khi nào có quyết định, khi ấy tôi mới bàn giao công việc.” → Khi nào có quyết định thì tôi mới bàn giao công việc. → Khi nào có quyết định  tôi mới bàn giao công việc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    5. Các hành vi ngôn ngữ tiền giả định (TGĐ) về thời gian của sự tình&lt;br /&gt;Các hành vi ngôn ngữ TGĐ về thời gian của sự tình. Mỗi loại hành vi ngôn ngữ (HVNN) thường có những kiểu cấu trúc xác định. Như vậy, những cấu trúc thể hiện một HVNN đều TGĐ về thời gian của sự tình. Chúng ta nêu một số ví dụ.&lt;br /&gt;Khi ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo, hứa hẹn   thực hiện hoặc không thực hiện một điều  X nào đó  thì cái điều X ấy  chưa xảy ra. Một cấu trúc của hành vi mệnh lệnh bắt thực hiện hành động X  là “X đi!” (Học bài đi!). Từ đi trong cấu trúc này cho biết “X chưa xảy ra”. Một cấu trúc của hành vi đề nghị thực hiện hành động X là “X một chút” (chờ một chút!). Từ một chút  trong cấu trúc này cũng cho biết “X chưa xảy ra”. Khi người nghe chấp nhận một mệnh lệnh, một  yêu cầu, một  đề nghị  thực hiện  điều  X  hoặc người nói hứa hẹn, khuyên bảo thực hiện điều X thì X sẽ xảy ra trong tương lai.&lt;br /&gt;Có  hiện tượng mơ hồ của các hành vi ngôn ngữ. Hiện tượng này kéo theo sự mơ hồ về thời gian của sự tình. Ví dụ: “Phải uống 3 tuần liền mới hết bệnh” là một câu mơ hồ.  a) Nếu là lời của một người khác (bác sĩ chẳng hạn) thì đây là câu mệnh lệnh và sự tình xảy ra trong tương lai , ai đó chưa uống thuốc 3 tuần liền. &lt;br /&gt;b) Nếu là lời tôi hoặc ai đó tường thuật lại một sự tình thì hành vi tường thuật đã tiền giả định rằng sự tình đã xảy ra trong quá khứ: Tôi hoặc ai đó đã uống thuốc 3 tuần liền.&lt;br /&gt;Đôi điều kết luận&lt;br /&gt;Từ ngữ không gian và nhiều loại từ ngữ khác được  chuyển thành từ ngữ thời gian là một hiện tượng rất thú vị của tiếng Việt. Cần tiếp tục nghiên cứu kĩ hơn về hiện tượng này.&lt;br /&gt;Có những nhóm từ tựa như đồng nghĩa nhưng vẫn có phân biệt trong cách dùng, trong những tổ hợp từ.  Ví dụ: Rất nhiều trường hợp đều có thể dùng  lát  thay lúc, khi  thay  lúc mà nghĩa gần như không khác. Nói  “lát sau”, cũng nói “lúc sau”. Nói “Tôi cần nghỉ một  lát” nhưng cũng nói được “Tôi cần nghỉ một  lúc”. Nói “Khi tôi 10 tuổi” nhưng cũng nói “Lúc tôi 10 tuổi”…  Tuy nhiên, nói lát sau nhưng không nói *lát trước, nói chốc lát  nhưng không nói *chốc lúc.  Nói “Về cùng lúc” nhưng không nói “*Về cùng khi”…Vậy lát khác lúc thế nào, lúc khác khi thế nào…Ở những nhóm từ tựa như đồng nghĩa này, bên cạnh việc nghiên cứu định tính, cần có những  nghiên cứu định lượng, tức là  cần điều tra thống kê, mới có thể  chỉ ra  khuynh hướng và sắc thái nghĩa của  từng từ một cách thuyết phục.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Diệp Quang Ban, ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, 1992, Giáo Dục, Hà Nội&lt;br /&gt;2. Lê Cận &amp;amp; Phan Thiều, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập 1 &amp;amp; 2, 1983, Giáo&lt;br /&gt;3. Dục Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Khảo luận  về ngữ pháp Việt Nam, 1963, Đại học Huế &lt;br /&gt;4. Nguyễn Đức Dân, Lô gích và tiếng Việt, nxb Giáo dục, 1996&lt;br /&gt;5. Nguyễn Đức Dân, “Những giới từ không gian: sự chuyển nghĩa và  ẩn dụ”, Ngôn ngữ, số  9. 2005&lt;br /&gt;6. Cao Xuân Hạo, “Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 5, 1998&lt;br /&gt;7. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp,  ngữ nghĩa, 1998, Giáo dục,  Tp HCM&lt;br /&gt;8. Phan Khôi, Việt ngữ nghiên cứu  (tái bản), 1997, nxb Đà Nẵng&lt;br /&gt;9. Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Việt Nam văn phạm, 1940,  Hà Nội&lt;br /&gt;10. Hồ Lê, Cú pháp tiếng Việt, quyển 1 (1991), 2 (1992), 3 (1993),  KHXH,  Hà Nội&lt;br /&gt;11. Lê Văn Lý, Sơ thảo Ngữ pháp Việt Nam, 1971, Trung tâm học liệu Sài Gòn&lt;br /&gt;12. Trần Ngọc Ninh, Cơ cấu Việt ngữ, 3 tập, Lửa thiêng, 1974, Sài Gòn&lt;br /&gt;13. Đào Thản, “Về các nhóm từ có ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt”, Ngôn Ngữ, số 1, 1979&lt;br /&gt;14. Đào Thản, “Cứ liệu từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt về mối quan hệ  không gian – thời gian”, Ngôn ngữ, số 3, 1983&lt;br /&gt;15.Nguyễn Kim Thản, Động từ trong tiếng Việt, 1977,   KHXH, Hà Nội&lt;br /&gt;16. Nguyễn Văn Thành, “Hệ thống các từ chỉ thời-thể và phạm trù ngữ pháp của các cấu trúc thể-thời của động từ tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 2, 1992&lt;br /&gt;17. Lý Toàn Thắng, “Ngôn ngữ và sự tri nhận  không gian”, Ngôn ngữ , số 4, 1994&lt;br /&gt;18. Lý Toàn Thắng, Mấy vấn đề Việt ngữ học và ngôn ngữ học đại cương, KHXH, 2002, Hà Nội &lt;br /&gt;19. Huỳnh Văn Thông, “Mấy nhận xét về vị từ tình thái và ý nghĩa thể (espect) trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 8, số 10, 2000&lt;br /&gt;20. Phan Thị Minh Thúy, Cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Nga), L.A tiến sĩ, 2003, ĐHKHXH&amp;amp;NV Tp HCM&lt;br /&gt;21. Nguyễn Minh Thuyết &amp;amp; Nguyễn Văn Hiệp, Thành phần câu trong tiếng Việt, 1998, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội   &lt;br /&gt;22. Bùi Đức Tịnh, Văn phạm Việt Nam, giản dị và thực dụng, Trung-tâm Học-liệu Bộ Giáo Dục, 1968,   Sài Gòn.&lt;br /&gt;23. Nguyễn Hoàng Trung, Thể trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Pháp và tiếng Anh), luận án tiến sĩ, 2005,  ĐHKHXH&amp;amp;NV Tp HCM&lt;br /&gt;24. Hoàng Tuệ, Giáo trình Việt ngữ,  1962, Giáo dục, Hà Nội&lt;br /&gt;25. Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, 1992&lt;br /&gt;26. G. Fauconnier, Mental Spaces: Aspects of Meaning Construction in Natural language, Cambridge University Press, 1994&lt;br /&gt;27. G. Lakoff &amp;amp; M. Jhonson, Metaphors We Live By, University of Chicago Press, 1980&lt;br /&gt;28. Thompson, Laurence C., A Vietnamese Grammar, University of Washington, Press, Seatle, 1967&lt;br /&gt;* Bài đã đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, số 12. 2009, trang 1 - 14&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-848230915633920209?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/848230915633920209/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/tri-nhan-thoi-gian-trong-tieng-viet.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/848230915633920209'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/848230915633920209'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/tri-nhan-thoi-gian-trong-tieng-viet.html' title='Tri nhận  thời gian trong tiếng Việt'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-2544516906435693894</id><published>2010-08-26T13:52:00.000-07:00</published><updated>2010-08-26T13:53:39.382-07:00</updated><title type='text'>Dấu phẩy giá bao nhiêu?*</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Dấu phẩy giá bao nhiêu?*&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Dấu phẩy nhằm tách biệt các phần câu. Nó cho phép diễn đạt chính xác điều muốn nói. Đặt sai dấu phẩy, biết bao chuyện dở cười dở khóc xảy ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong những bài viết, nhiều nhà văn, nhà báo và cả những chính khách  rất chú ý tới  dấu câu.  Có người hỏi Oscar Widle (1856 – 1900): sao trông ông lại đăm chiêu như vậy? Nhà văn  Anh này đáp: “Sáng nay tôi đã bỏ quên một dấu phẩy trong một bài thơ. Chiều nay tôi phải lấy lại.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cách đặt dấu phẩy  khác nhau dẫn tới ý nghĩa khác nhau. &lt;br /&gt;Hãy tạm gác những  dấu phẩy đặt sai làm  câu  thành ngô nghê, như một sinh viên Lào, năm 1977, đã đặt dấu phẩy cho câu Kiều “(Dở dang nào có hay gì,) Đã tu tu trót quá thì thì thôi!” như sau: “Đã tu tu,  trót quá thì thì thôi!”&lt;br /&gt;Một giáo viên  tiếng Anh đã đề nghị mỗi sinh viên  đặt những dấu thích hợp vào câu sau: “Woman without her man is nothing”&lt;br /&gt;Bọn con trai ngắt câu: “Woman, without her man, is nothing” (đàn bà, nếu thiếu nửa kia của mình, thì chẳng là gì cả)&lt;br /&gt;Bọn con gái lại ngắt câu như sau: “Woman: without her, man is nothing” (phụ nữ: thiếu cô ta, đàn ông chẳng là gì cả)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì sao phải đánh vần  dấu câu trong bức điện tín?&lt;br /&gt;Một  phụ nữ Mỹ đi du lịch ở châu Âu gửi điện về cho chồng: “Có một chiếc xuyến  đẹp mê hồn, giá 75 đô. Em mua được không?” Anh chồng lập tức trả lời “No, price too high” (không, giá quá cao). Nhưng nhân viên điện tín mắc một sai lầm nhỏ đã bỏ qua dấu phẩy và thành: “No  price  too high” (không  giá nào là  quá cao). Được lời như cởi tấm lòng, chị chàng  mua ngay chiếc xuyến. Khi về Mỹ, cô vợ  khoe chiếc xuyến  làm người  chồng choáng váng. Người chồng đem vụ “bỏ sót dấu phẩy” này ra kiện và đã thắng. Từ đây,  các hãng điện tín đòi hỏi nhân viên phải đánh vần  các dấu câu trong bức điện chứ không dùng kí hiệu. Nghĩa là phải viết “No comma  price  too high” (không phẩy giá cao quá). Thật ra chỉ viết  “price  too high” (giá cao quá) là đủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mất người yêu chỉ tại thiếu dấu phẩy&lt;br /&gt;Giai thoại: “Họ yêu nhau nhưng chàng trai rất nghèo. Anh đi xuất khẩu lao động để kiếm tiền cưới vợ. Những biến động xã hội nơi xứ người khiến thư từ đi lại thất thường. Sau mấy tháng bặt tin anh, cô gái viết thư sang yêu cầu anh cho biết thái độ dứt khoát, cô không yên tâm và không đủ kiên nhẫn chờ anh…Được thư, anh hốt hoảng viết vội ba chữ trả lời: “Đừng chờ anh!”. Thế là cô gái đi lấy chồng. Khi về nước anh trách cô gái bội ước. Cô gái đưa thư cũ của anh ra. Anh té ngửa: trong lúc đầu óc mụ mẫm mình đã viết thiếu một dấu phẩy. Thực ra anh định viết “Đừng, chờ anh!”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhầm thành dấu phẩy, Nhà nước mất bao nhiêu?&lt;br /&gt;Năm 1870, trong danh sách các mặt hàng được miễn  thuế vào Mỹ lẽ ra  là câu “Tropical fruit-plants for the purpose of propagation” (các cây nhiệt đới ăn  trái nhằm mục đích nhân giống) nhưng người ta đánh nhầm dấu nối thành dấu phẩy “Tropical fruit, plants for the purpose of propagation” (trái cây nhiệt đới, cây  nhằm mục đích nhân giống). Thế là toàn bộ các loại trái cây nhiệt đới được nhập miễn thuế  vào Mỹ cho tới  khi  người ta phát hiện  ra sai sót chết người này.  Tính ra đã mất khoảng 500.000 USD tiền thuế không đòi lại được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hiểu  sai dấu phẩy, quan chủ khảo bị vài chục… gậy&lt;br /&gt;Trong Lều chõng, Ngô Tất Tố kể chuyện rằng, danh sĩ đời Lê, cụ Nguyễn Công Hoàn là bậc  văn hay, học vấn uyên thâm, chỉ vì cái tật đặt câu cầu kỳ, thành ra  thi mãi không đỗ. Bởi vì, “trong lúc quan trường chấm văn, người ta chấm như ăn cướp”, còn thì giờ đâu mà ngẫm nghĩ về ý tứ sâu xa của câu văn. Trong khi đó Nguyễn Công Lân là con, sức học  kém cụ rất xa, nhưng mà văn chương hoạt bát nên đã  đỗ  tiến sĩ.&lt;br /&gt;“ Khoa ấy […] ông Lân đã làm chủ khảo, cụ Nguyễn vẫn còn cắp quyển đi thi, và cũng lại hỏng như trước…&lt;br /&gt;-  (Xong việc trường thi, ông Lân về nhà thăm cha). Cụ Nguyễn hỏi:&lt;br /&gt;-  Khoa này có được  quyển nào khá không?&lt;br /&gt;-  Có một quyển khá, chỉ vì phải câu tứ lục thất niêm, không thể lấy đỗ.&lt;br /&gt;-  Câu tứ lục ấy thế nào? Có nhớ không?&lt;br /&gt;Ông con thưa rằng nhớ và đọc:&lt;br /&gt;“Lưu hành chi hóa tự Tây Đông, Nam Bắc vô tư bất phục.&lt;br /&gt;Tạo tựu  chi công tự Cảo Mân, Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng. ” Ông ngậm ngùi tiếc: nếu như hai câu dưới , họ đảo hai chữ Cảo Mân ra làm Mân Cảo thì hay biết chừng nào… Không đợi con nói hết lời, cụ Nguyễn vác gậy phang luôn chừng vài chục gậy: …dốt nát như thế mà đi chấm trường, chôn sống biết bao nhiêu người. […]&lt;br /&gt;- Thì ra hai câu tứ lục ấy chính của cụ Nguyễn, ý cụ đặt như thế này:&lt;br /&gt;“Lưu hành chi hóa tự Tây, Đông Nam Bắc  vô tư bất phục&lt;br /&gt;Tạo tựu  chi công tự Cảo, Mân Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng” […] Bởi vì nhà Chu khởi ở phương Tây, đóng kẻ chợ ở đất Cảo, người ta chỉ có thể nói “Cái thói trôi đi nổi tự phương Tây, các phương Đông Nam Bắc đâu đâu cũng phục cái công đắp dựng gây từ xứ Cảo, các xứ Mân Kỳ Phong đều cùng dấy theo. Chứ ai lại nói “Cái thói trôi đi nổi tự phương Tây,  phương Đông, cái công đắp dựng gây từ xứ Cảo, xứ Mân”… &lt;br /&gt; ( NTT, TP, tập 2, 367, nxb VH, 1977)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Được người yêu nhờ qui tắc đánh vần dấu câu&lt;br /&gt;Ông bố nọ muốn lấy tên nhà thơ La Mã vĩ đại  Virgile đặt  cho con trai mình. Khốn nỗi, ông lúng túng viết nhầm thành VIRGULE, tiếng Pháp có nghĩa là dấu phẩy. Anh chàng lớn lên cũng khẳng khiu  như dấu phẩy, không thành nhà thơ mà vào làm bưu điện.  Anh thầm  yêu trộm nhớ cô hàng xóm Sophie. Cô gái này lại  yêu chàng trai không yêu cô. Bao nhiêu thư gửi đi mà không nhận được hồi đáp. Rồi một hôm  cô quyết định ra bưu điện gửi bức điện (chứ không viết thư nữa) cho chàng trai nọ. &lt;br /&gt;-  Tôi muốn gửi một bức điện. Cô buồn rầu nói  mắt không nhìn Virgule – nhân  viên bưu điện.&lt;br /&gt;-  Cô vui lòng đọc nội dung…Virgule cầm bút cảm động lắp lắp nói.&lt;br /&gt;- “Je t’aime, virgule, Je  t’adore, virgule, Je voudrais tant que tu me dises que tu m’aimes aussi, point.” (Em yêu anh, phẩy, em thương anh, phẩy, em muốn anh cũng nói với em rằng anh cũng yêu em, chấm). Anh chàng Virgule không  cho virgule là dấu phẩy mà hiểu đó là tên mình: Em yêu anh, Virgule, em thương anh, Virgule… Anh chàng bưu điện yêu cầu cô gái nhắc lại. Sophie làm theo Em yêu anh, Virgule, em thương anh, Virgule…Mắt anh ta sáng lên. Sophie nhận ra anh chàng này đáng yêu làm sao. Virgule thì thầm nói “Anh cũng yêu em, Sophie!” Và họ đến với nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đặt nhầm dấu phẩy, thoát  một mạng người&lt;br /&gt; Giai thoại về Alexandre Đệ Tam (Nga): khi ông từ chối ân xá cho một phạm nhân “Pardon impossible, to be sent to Siberia”. Vợ ông là Dagmar (cháu  gái vua Đan Mạch Christian IX) là một người vô tâm,  nên đã  đánh nhầm dấu phẩy thành “Pardon, impossible to be sent to Siberia ”. Thế là người tù này thoát tội. Đây là kiểu mơ hồ có trong mọi ngôn ngữ do dấu phẩy ngắt phần “không được” vào hai vế khác nhau của câu. Ví dụ:&lt;br /&gt;Tiếng Việt: a) Khi uống bia,  không được cho đường.&lt;br /&gt;          b) Khi uống bia không được, cho đường.&lt;br /&gt;          c) Khi uống bia không, được cho đường.&lt;br /&gt;Tiếng Nga: a)   Казнить,  нелзя помиловаь ( xử tử, không ân xá)&lt;br /&gt;Казнить  нелзя,  помиловаь (không được xử tử, ân xá)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TB: [Nếu  không in được chữ Nga thì chuyển tự Latinh]:&lt;br /&gt;Kaznit’ , nelzja  pomilovat’&lt;br /&gt;Kaznit’  nelzja,  pomilovat’&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết luận: Có những tình huống dấu phẩy vắng cũng được, có cũng chẳng sao. Nhưng có những tình huống nếu vắng dấu phẩy sẽ gây ra những tổn thất khôn lường.&lt;br /&gt;*Bài này đã đăng trong Sài Gòn tiếp thị số ra ngày thứ hai, 23.8.2010&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-2544516906435693894?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/2544516906435693894/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/dau-phay-gia-bao-nhieu.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/2544516906435693894'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/2544516906435693894'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/dau-phay-gia-bao-nhieu.html' title='Dấu phẩy giá bao nhiêu?*'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-6143572410508882660</id><published>2010-08-17T02:18:00.000-07:00</published><updated>2010-08-17T02:23:42.601-07:00</updated><title type='text'>Viết tên riêng nước ngoài thế nào?</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Viết tên riêng nước ngoài thế nào?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt; &lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS.TS. Nguyễn Đức Dân &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Tên của một người, một địa danh, một nước  được gọi là tên riêng, cốt để phân biệt người này với người khác, địa danh này với địa danh khác,  nước này với nước khác.&lt;br /&gt;Trong lớp học, nếu có hai bạn tên Hùng thì phải thêm chữ A, chữ B vào để phân biệt Hùng A  với Hùng B nhưng trong những giấy tờ pháp lí thì cả hai đều vẫn chỉ là Hùng.&lt;br /&gt;Tên riêng là đặc trưng của một cá nhân về chữ viết, về “mặt chữ” nên được phép viết lệch chuẩn,  không giống với những qui định thông thường. Tác giả của Chân trời cũ có bút danh là Hồ Dzếnh. Trong tiếng Việt không có phụ âm dz nhưng chẳng ai thắc mắc hoặc có quyền đòi hỏi phải sửa lại thành Hồ Dếnh cả. Xin mở một ngoặc đơn: Nhà văn Hà Triệu Anh, họ tên Hà Anh ghi theo giọng Quảng Đông là Hồi – Díng, tên này nghe khó xuôi nên tác giả đặt bút danh là Hồ Dzếnh.  Tuy vậy những người trong làng văn nghệ vẫn cứ trêu đùa gọi ông là Hồ Dính, có người còn đặt một vế đối: "Hồ Dính dính hồ hồ chẳng dính" để thách đối. Có một vài vế đối nhưng đều  chưa chỉnh, như: "Ngọc Giao giao ngọc ngọc không giao" (mượn tên nhà văn Ngọc Giao). Cũng có người đối lại: "Vũ Bằng bằng vũ vũ chưa bằng" (mượn tên nhà văn Vũ Bằng) (dẫn từ internet).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vậy thì, nguyên tắc đầu tiên của việc viết tên riêng là phải viết đúng theo mặt chữ như nó vốn có.&lt;br /&gt;  Trên thế giới hiện có nhiều hệ thống chữ viết với khoảng 50 bảng chữ cái khác nhau. Nhiều bảng  có nguồn gốc từ hệ chữ Latinh (Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Việt…), hệ chữ Slave (Nga, Ba Lan,…), hệ chữ khối vuông (Hán, Hàn,…), hệ chữ Do Thái, chữ Hy Lạp…Có hệ chữ viết ghi âm, có hệ ghi ý.&lt;br /&gt;Mỗi dân tộc ghi tên riêng theo hệ chữ viết của mình. Trong quá trình giao tiếp, chúng ta  có nhu cầu đọc văn bản của những dân tộc khác, ấy thế là có nhu cầu phiên âm thứ tiếng này sang thứ tiếng khác hoặc chuyển tự chữ viết này sang chữ viết khác.&lt;br /&gt;Mỗi ngôn ngữ đều có những đặc trưng ngữ âm riêng, có bảng chữ cái riêng nên có những hiện tượng ngữ âm và chính tả trong thứ tiếng này lại không có âm và chữ viết tương đương trong thứ tiếng khác. Hơn nữa, do năng lực thẩm âm mỗi người mỗi khác, và mỗi người lại đọc theo tiếng Anh, tiếng Pháp hay theo thứ tiếng nào đó,  nên tất yếu xảy ra hiện tượng mỗi người phiên âm một kiểu và  phiên âm không luôn luôn  đạt được âm giống hệt như âm gốc. Và chúng ta không hi vọng có được sách công cụ tra cứu chuẩn khi phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.&lt;br /&gt;Ví dụ 1: Tiếng Việt có thanh điệu nên khi phiên âm liền xảy ra những cách phiên khác nhau liên quan tới thanh điệu. Nếu âm cuối là  âm khép –p, -t , -k ( ­-c, -ch) tạo ra vần “trắc”. Vần này với thanh sắc vẫn phải bỏ dấu sắc ( quan điểm của SGK vật lí), nhưng cũng có thể theo quan điểm của SGK hóa học và sinh học không có dấu sắc thì vẫn là thanh sắc (axit, cacbonat, gluxit, lipit).&lt;br /&gt;Ví dụ 2: Bảng chữ cái tiếng Việt không có các chữ F, J, W, Z. Vậy là gặp rắc rối khi phiên các từ bắt đầu bằng những chữ cái đó, nhất là khi những chữ đầu này thành những đơn vị đo lường:  J, W, F (chữ đầu của  nhà vật lí J.P. Joule, J. Watt, M. Faraday, G. Fahrenheit).  Dòng điện chạy qua một mạch điện sẽ sinh công.  Nói “đơn vị của công là Giun” nhưng bắt buộc viết “đơn vị của công là J” . Nói “công suất bóng đèn này là 45 oát”, nhưng bắt buộc viết “công suất bóng đèn này là 45w”. Có nghĩa là không thể phiên âm Joule, watt mà phải viết theo nguyên dạng.&lt;br /&gt;Hệ quả tất yếu là  nhiều khi đọc các từ phiên âm khó mà tái hiện được chữ gốc. Khi đọc  Noóc-mân Mây-lơ, Uy-li-am Phôn-cnơ, En-tô-ny Béc-gi-ét, Ét-na Ô-brai-en, Frăng-xoa Mô-ri-ac… mấy bạn có thể tái hiện ngay tên gốc các nhà văn này? (N. Mailer, W. Faulkner, A. Bergess, E. O’Brien, F. Mauriac). Vả lại, trong tiếng Việt làm gì có các vần  cnơ, brai, Frăng… mà gọi là phiên âm sang tiếng Việt?  Bạn thử mà xem, cái họ Nguyễn của người Việt nếu phiên âm sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga thì viết thế nào và liệu  mấy người nước ngoài đọc đúng từ Nguyễn  như người Việt? Tên thủ đô nước Nga là MOCKBA, một từ khá dễ phiên âm cũng được người Anh phiên thành Moscow, người Pháp phiên thành Moscou, người Trung Hoa lại phiên theo cách riêng và được người Việt đọc theo âm Hán Việt thành Mạc Tư Khoa. Có một thời nhiều người Việt học tiếng Nga nên thủ đô Nga cho đến nay còn được viết  theo cách đọc Nga thành  Mát-xcơ-va. Thử hỏi, những cách viết Moscow, Moscou, Mạc Tư Khoa, Mát-xcơ-va (tiếng Việt không có vần xcơ nên tên này thậm chí còn được viết là Mát-xì-cơ-va) đâu có được người Anh, người Pháp, người Việt đọc đúng như âm Nga của từ MOCKBA? Mà ngay cách đọc tên nhạc sĩ Ba Lan  F. Chopin liệu có trùng hoàn toàn  với cách đọc tên ông viết theo tiếng Ba Lan: F. Szopen?&lt;br /&gt;Vì vậy, không nên phiên âm mà nên chuyển tự.&lt;br /&gt; Các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đã xây dựng những qui tắc chuyển  tự từ hệ chữ viết này sang hệ chữ viết khác, trong đó có chuyển chữ Nga sang chữ Latinh. Theo đó MOCKBA, ПУШКИН… được chuyển thành Moskva, Pushkin…Viết như vậy thì bất cứ dân tộc nào cũng nhận ra Pushkin là ai.&lt;br /&gt;Tên riêng nước ngoài nhập vào tiếng Việt thế nào?&lt;br /&gt;Trước hết qua tiếng Trung Quốc, sau đó là tiếng Pháp và nay là tiếng Anh. Mặt khác chịu tác động của những qui luật ngôn ngữ, những tên riêng này thay đổi dần đi.&lt;br /&gt;Nhập qua tiếng Trung Quốc, chúng ta có những tên được viết có dấu nối: Nước  Anh-Cát-Lợi, Úc-Đại-Lợi, Ý-Đại-Lợi, Bồ-Đào-Nha, Tây-Ban-Nha,  Nam Dương, Phi-Luật-Tân,  Thổ-Nhĩ-Kỳ, Ba-Tư, Ả-Rập, Mễ-Tây-Cơ, Hung-Gia-Lợi, …Rồi những tên thành phố, tên người Ba-Lê, Luân-Đôn, Bắc-Kinh, Bá-linh, Hán Thành, Hoa-Thịnh-Đốn, Nã-phá-luân; Hương Cảng, Cựu-Kim-Sơn, Mã-Khắc-Tư, Mạnh-Đức Tư-Cưu,…Sau đó những dấu nối được bỏ đi.&lt;br /&gt;Chịu ảnh hưởng của tiếng Pháp, tiếng Anh nhiều tên được chuyển lại theo cách đọc Pháp, rồi cách đọc Anh: Ái Nhĩ Lan → Iếc-lăng → Ai len , Nam Dương → In-đô-nê-xia, Mễ Tây Cơ → Mếch-xích, Hung Gia Lợi → Hung ga ri, Bảo Gia Lợi → Bun ga ri, Lỗ Ma Ni → Ru ma ni…Ba Lê → Pa ri,  Hoa Thịnh Đốn→ Oa sinh tơn, Hương Cảng → Hồng Kông, Bá linh→ Béc lanh , Cựu Kim Sơn → San Francisco, Mã Khắc Tư → Các Mác, Nã phá luân → Na pô lê ông…&lt;br /&gt;Tên riêng được hình thành theo cách phiên âm (khá tùy ý): Béc-na Sô,  Sếch-xpia, Duy-ma; Tôn-xtôi, Giơ-ne-vơ…&lt;br /&gt;Do nguyên lí  tiết kiệm trong ngôn ngữ, nhiều tên riêng tự động được rút gọn đi thành những tên rất Việt Nam: Anh Cát Lợi → Anh, Úc Đại Lợi → Úc, Ý Đại Lợi → Ý, Áo Địa Lợi→ Áo,  A Mỹ Lợi Gia →Mỹ, Hung Gia Lợi → Hung …Quá trình này vẫn đang xảy ra:  Báo chí thường viết ‘HLV người Bồ Calisto’ &lt;br /&gt;Thay đổi tên gọi theo qui định trở lại  nguyên gốc mà không tham khảo ý kiến của giới ngôn ngữ học nên có vài tên không thỏa đáng: Ý → Italia; Úc→ Australia&lt;br /&gt;Có những  chi tiết đáng để suy nghĩ: Một, những người đầu tiên phàn nàn về  đổi tên Ý  thành   Italia là Đại sứ quán Ý:  cái từ nước Ý  hay như vậy, sao lại chuyển thành nước Italia?  Hai, có đổi  Úc thành Australia nhưng nào thấy đổi Áo thành Autriche (theo tên Pháp),  Austria (theo tên Anh) hay  Österreich (theo tên Đức), và chúng ta vẫn cứ nói ‘HLV người Áo A. Riedl’. Ba, nhiều báo vẫn cứ viết là đội tuyển Úc , đội tuyển Ý…&lt;br /&gt;Viết tên riêng nước ngoài thế nào? Cần theo mấy nguyên tắc sau:&lt;br /&gt;a. Tên riêng cốt  để nhận biết và phân biệt, do vậy  cần viết đúng theo mặt chữ như nó vốn có. Nghĩa là nếu những tên riêng không thuộc 2 trường hợp b, c dưới đây thì viết theo nguyên dạng.&lt;br /&gt;-   Những nước theo hệ chữ Latinh thì tên riêng được giữ nguyên dạng. Ví dụ:   Brazil, Mexico, Liechtenstein, California, A Einstein … Hầu hết các địa danh trên thế giới đã được viết theo tiếng Pháp và tiếng Anh và trở nên quen thuộc, vì vậy khi giữ đúng cách viết  của một  quốc gia về  tên riêng của họ, nếu cần thiết có thể chua thêm tên tiếng Anh hoặc Pháp. Ví dụ:  Đức có thành phố  Koln, tên Pháp là Cologne lại rất quen thuộc với người Việt (cuối thập kỉ 50 thế kỉ trước, người  Hà Nội rất hâm mộ bộ phim Đại úy thành  Cô-lô-nhơ); Ba Lan có thành phố cổ Kraków rất nổi tiếng mà người Việt quen với tên  Pháp là Cracovie. Trong những trường hợp này có thể viết  Koln (hay Cologne),  Kraków (hay  Cracovie).&lt;br /&gt;-    Những nước có hệ chữ không phải Latinh, họ phiên tên riêng sang chữ Latinh thế nào thì chúng ta theo đúng như vậy. Ví dụ: người Hàn viết Seoul thì ta cũng viết Seoul chứ không  gọi là Hán Thành; Người Ấn viết Mumbai (còn gọi là Bombay) thì ta cũng viết vậy. Ta cũng theo người Nhật gọi Tokyo chứ không gọi Đông Kinh nữa.&lt;br /&gt; b. Tôn trọng những  tên gọi  truyền thống, quen thuộc – có từ trước 1945 và nay vẫn dùng -  nhất là những tên gọi phù hợp với nguyên lí tiết kiệm trong ngôn ngữ. Những tên riêng gốc Hán đã vào tiếng Viết lâu đời thì giữ nguyên: Pháp, Anh, Đức, Nhật, Bỉ, Ý, Áo, Úc, Ấn Độ, Đan Mạch, Hy Lạp,… Luân Đôn, Bắc Kinh, Hồng Kông, Thiên An Môn… Với những tên riêng Trung Quốc không quen thuộc, chúng ta theo điểm a), người ta viết thế nào chúng ta viết như vậy. Tên một vận động viên bóng bàn được viết là Wang Hao thì chúng ta cũng viết vậy mà không cần truy lại cách viết Hán Việt Quang Hạo.&lt;br /&gt;     c. Tôn trọng cách viết  của một  quốc gia về  tên riêng của họ.  Chẳng hạn, về nước Mỹ, Đại sứ quán Mỹ sử dụng hai cách viết Hợp chúng quốc Hoa Kỳ,  Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (quốc gia có nhiều chủng tộc), nhưng  "Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ” là tên xuất hiện trên trang web (ngày 23.6.2010) của Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng ta  chấp nhận cả ba cách viết đó.&lt;br /&gt;    Các nhà tin học dễ dàng viết  một phần mềm cho phép nhận diện được một tên riêng qua những biến thể khác nhau của nó.&lt;br /&gt;*&lt;br /&gt;*   *&lt;br /&gt;Trong bài này tôi chỉ bàn đến cách viết tên riêng nước ngoài mà chưa  bàn tới cách viết các từ vay mượn là những thuật ngữ và  từ ngữ thông dụng.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-6143572410508882660?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/6143572410508882660/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/viet-ten-rieng-nuoc-ngoai-nao.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6143572410508882660'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6143572410508882660'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/viet-ten-rieng-nuoc-ngoai-nao.html' title='Viết tên riêng nước ngoài thế nào?'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-6175450377299126458</id><published>2010-08-10T19:34:00.000-07:00</published><updated>2010-08-10T19:48:21.870-07:00</updated><title type='text'>Tiếng lóng tôi dùng cách nay hơn 60 năm</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/TGIOaDswQII/AAAAAAAAAGM/umJn3HND4Ps/s1600/long3.JPG"&gt;&lt;img style="float: left; margin: 0pt 10px 10px 0pt; cursor: pointer; width: 200px; height: 162px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/TGIOaDswQII/AAAAAAAAAGM/umJn3HND4Ps/s200/long3.JPG" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5503977535432573058" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt; Tiếng lóng tôi dùng cách nay hơn 60 năm &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Giáo sư Nguyễn Đức Dân tiếp tuc câu chuyện tiếng lóng: Có những tiếng lóng đã đi vào ngôn ngữ toàn dân, hoặc trở thành uyển ngữ, hay nhã ngữ…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì sao ra đời tiếng lóng?&lt;br /&gt;Như chúng ta biết, tiếng lóng là thứ tiếng được dùng trong một giai tầng xã hội nhỏ, cốt để truyền đi những thông tin bí mật. Tầng lớp hạ lưu là những người đầu tiên dùng tiếng lóng.&lt;br /&gt;Thật ra rất nhiều thành phần xã hội cũng có nhu cầu dùng tiếng lóng. Là học sinh, hẳn có lúc bạn có nhu cầu nói với bạn bè những điều không muốn để ba má biết. Thế là bạn phải dùng tiếng lóng.&lt;br /&gt;Ngay cả những chính khách cũng có lúc cần dùng tiếng lóng để giữ bí mật thông tin. Xin kể giai thoại sau:&lt;br /&gt;Trong Hội nghị Yalta của ba nước lớn (4/2/945–11/2/1945) bàn về những chuyện khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, có Thủ tướng Anh Winston Churchill, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (cũ) Joseph Stalin. Có một hôm, đô đốc Hải quân Mỹ William D. Leahy báo cáo với Tổng thống Mỹ Roosevelt rằng: “Ở nhà cho biết em bé đã ra đời khỏe mạnh”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;Trong cuộc họp quan trọng của “ba ông lớn” cũng có nhu cầu nói tiếng lóng.   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc họp quan trọng của “ba ông lớn” (Big Three), dù là lúc rảnh rỗi ngoài lề, mà lại nói tới “em bé”. Rõ ràng “em bé” là một tiếng lóng. Chủ tịch Joseph Stalin liền chúc mừng F. D. Roosevelt: “Chúc nước Mỹ đã thử thành công bom nguyên tử”!&lt;br /&gt;Lại có những điều không cần giữ bí mật, nhưng  không cho phép chúng ta nói thẳng ra đúng như tên gọi của nó mà phải nói trại đi. Đó là những điều cấm kỵ (taboo). Đây cũng là một lý do dẫn tới tiếng lóng. Chuyện này chúng ta sẽ nói sau.&lt;br /&gt;Lại còn trường hợp gặp những điều nói ra thì chẳng “vẻ vang” gì. Ấy thế là cũng phải nói trại đi. Đó cũng là nguồn gốc cho việc hình thành tiếng lóng.&lt;br /&gt;Một người  luôn mong có con trai để “nối dõi tông đường” nhưng vợ chỉ sinh con một bề, khi trả lời câu hỏi “Lần này bà xã sinh trai hay gái?” thì có thể dùng tiếng lóng nói lên nỗi thất vọng: “Lại một thị mẹt”, hay “Lại một con vịt giời”,…&lt;br /&gt;Khi trả bài kiểm tra, được 10 điểm, hẳn bạn không cần dùng tiếng lóng để báo người khác biết mình được mấy điểm mà nói ngay “Tớ được 10”. Ấy thế nhưng nếu bị 2 hoặc 1, nói lên số điểm này cũng hơi bị “ê”. Thế là phải dùng tiếng lóng nhằm giảm mức độ thua kém của mình: “Tớ bị xơi ngỗng”, “Cô giáo phang tớ một gậy”,…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng lóng học đường&lt;br /&gt;Cách đây hơn 60 năm, ngay từ năm 1946, chúng tôi đã dùng tiếng lóng để nói cho vui và cũng là để giữ bí mật với bố mẹ vốn quản lý chặt chẽ con cái về giờ giấc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;Trường học cũng là nơi sản sinh ra tiếng lóng. Đó là thứ tiếng lóng học đường.    &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại để những câu hỏi đáp như sau:&lt;br /&gt;- Lokí liđi lanhđí libi lôngkhi? (nghĩa là: Có đi đánh bi không?)&lt;br /&gt;- Lôbí lơtí lôngkhi lochi liđi. (nghĩa là: Bố tớ không cho đi)&lt;br /&gt;Kiểu nói lóng này nghe hay hay thì học nói theo và chúng tôi học theo kiểu truyền khẩu, nghe các anh ở lớp trên nói và nói theo, cứ câu ấy, câu ấy là phải nói như vậy. Nói nhưng không biết quy tắc nói lóng đó như thế nào. Nói mãi thành biết.&lt;br /&gt;Sau này, đọc quyển Les jeux de mots (chơi chữ) của Pierre Guiraud, tôi mới biết hóa ra đấy là kiểu tiếng lóng largonji của tiếng Pháp. Hẳn là do trẻ em Pháp mang sang. (Ai biết rõ hơn xin chỉ giùm!).&lt;br /&gt;Mỗi kiểu tiếng lóng đều được xây dựng theo một mã (quy tắc) nhất định. Kiểu nói lóng này rất đơn giản. Một người giải mã hạng ba, trong vài ba phút là có thể phát hiện ra kiểu mã này. Để ý, các bạn sẽ thấy tiếng nào cũng có chữ l ở đầu và chữ i đứng cuối. Chẳng hạn, Lokí liđi lanhđí libi lôngkhi? Hẳn đó là những chữ người ta thêm vào. Chúng ta bỏ chúng đi: ok’ iđ anhđ’ ib ôngkh? Đây không phải là chữ quốc ngữ, thứ chữ viết có dấu thanh điệu đặt trên nguyên âm chính của vần chứ không phải đặt sau chữ cái cuối cùng như trên. Vậy chúng ta chuyển các dấu thanh đó lên nguyên âm ở đầu chữ, như ok’ -&gt; ók. Chúng ta được: ók iđ ánhđ ib ôngkh?&lt;br /&gt;Trong tiếng Việt, phụ âm đứng trước vần chứ không đứng sau. Vậy thử đảo phụ âm lên đầu chữ: ók iđ  ánhđ  ib ôngkh? -» kó đi đánh  bi  không?&lt;br /&gt;Chúng ta  được một câu tiếng Việt. Tương tự, các bạn dễ dàng giải mã được câu thứ hai là ‘Bố tớ không cho đi’.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;Một thời, dân hàng thịt ở Pháp cũng dùng tiếng lóng kiểu largonji.   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì sao có tên gọi largonji? Tên gọi này bắt nguồn từ jargon có nghĩa là ‘biệt ngữ’ hay là “thứ tiếng khó hiểu”. Quá trình này như sau: jargon -&gt; argonj -&gt; largonji. Tên gọi largonji giải thích luôn “mã” của kiểu lóng này: Với mọi từ, đều chuyển phụ âm đầu xuống cuối rồi thêm l_i vào đầu và cuối.&lt;br /&gt;Theo cách trên, trong cặp l_i, nếu thay i bằng một nguyên âm khác hoặc bằng một vần khác là chúng ta tạo ra được một kiểu nói lóng mới. Chẳng hạn, dùng cặp l_ơ, câu ‘Có đi đánh bi không?’  sẽ thành: Locớ liđơ lanhđớ libơ lôngkhơ?&lt;br /&gt;Các bạn có thể dễ dàng lập ra những ‘mã’ tiếng lóng mới và riêng biệt. Nhưng nên nhớ: đã là mã (code)  thì cần theo những luật chặt chẽ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng lóng nhanh đến và nhanh đi&lt;br /&gt;Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình tôi tản cư về quê. Học trò nông thôn không nói tiếng lóng. Môi trường nói lóng mất đi, chẳng còn nói lóng với ai được nữa. Tôi không dùng tiếng lóng nữa và mau chóng quên đi.&lt;br /&gt;Nhiều tiếng lóng là dấu vết của một thời, nay bạn trẻ không hiểu nữa nhưng các bạn lại có kiểu tiếng lóng mới.&lt;br /&gt;Có những tiếng lóng đã đi vào ngôn ngữ toàn dân: Nói tới “thị mẹt”, ai cũng hiểu đó là con gái. Mọi người đều hiểu thì còn gì là “lóng” nữa. Còn “con vịt giời” cũng chỉ con gái, nhưng là lối nói lịch sự cho từ ngữ đẹp lên, nên được gọi là uyển ngữ, hay nhã ngữ (euphemism). Chuyện này, chúng ta sẽ nói sau.&lt;br /&gt;Nguyễn Đức Dân&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-6175450377299126458?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/6175450377299126458/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/tieng-long-toi-dung-cach-nay-hon-60-nam.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6175450377299126458'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6175450377299126458'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/tieng-long-toi-dung-cach-nay-hon-60-nam.html' title='Tiếng lóng tôi dùng cách nay hơn 60 năm'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/TGIOaDswQII/AAAAAAAAAGM/umJn3HND4Ps/s72-c/long3.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-8863805764454597181</id><published>2010-08-10T19:16:00.000-07:00</published><updated>2010-08-10T19:34:13.784-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/TGIMDD5X_0I/AAAAAAAAAGE/UnWd7qdqunA/s1600/long2.JPG"&gt;&lt;img style="float: left; margin: 0pt 10px 10px 0pt; cursor: pointer; width: 200px; height: 134px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/TGIMDD5X_0I/AAAAAAAAAGE/UnWd7qdqunA/s200/long2.JPG" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5503974941325262658" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt; Tiếng lóng: Sao gọi là 'lóng'? &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giáo sư Nguyễn Đức Dân mở đầu câu chuyện tiếng lóng (dài kỳ) với bạn đọc goNews xoay quanh hai câu hỏi được nhiều bạn nêu lên: Tiếng lóng là gì, và do đâu mà gọi là "lóng"?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng lóng kiểu "Chuột túi" Tiếng lóng tôi dùng cách nay hơn 60 năm  ‘Tiếng sao Hỏa' = Hình thức giải trí? Tiếng lóng: 'Tiệc cocktail' trên  mạng tiếng Hoa Mật mã dễ thương, hay sự nghèo nàn ngôn từ? Tiếng lóng @:  8x, 9x Việt nghĩ gì? Mê tiếng lóng, vì đâu? Ngôn ngữ chat &amp;amp; Sĩ diện  điện tử Tiếng lóng "hiểu chết liền"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sao gọi là "lóng"?&lt;br /&gt;Tiếng lóng là slang, cant (tiếng Anh), là argot, jargon (tiếng Pháp).&lt;br /&gt;Người ta không biết đích xác từ slang xuất hiện lúc nào, nhưng năm 1736 đã xuất hiện từ điển Nathan Bailey’s Canting Dictionary (thieving slang). Trong từ điển này,  người ta sưu tầm từ ngữ của bọn  trộm cắp (Foot-Pads), ăn mày (beggars), dân lang thang (gypsies), bọn lường gạt (cheats), bọn đào ngạch, khoét vách, bẻ khóa (house-breakers), phu bốc vác (shop-lifters), bọn cướp đường (highway-men)…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;Từ xưa, nói chung, tiếng lóng là ngôn ngữ&lt;br /&gt;của tầng lớp hạ lưu như dân gypsy,...   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay tựa đề ấy cũng cho biết, từ xa xưa, tiếng lóng là ngôn ngữ của bọn trộm cắp, và nói chung là của tầng lớp hạ lưu. Vì vậy, trước đây ở rất nhiều nước, nhiều người coi tiếng lóng là thứ ngôn ngữ thiếu văn hóa, không nên dùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thậm chí ở Việt Nam, cách đây chưa xa, cũng có những nhà ngôn ngữ học cho rằng tiếng lóng là hiện tượng không lành mạnh trong ngôn ngữ, không có tác dụng tích cực, không làm giàu thêm ngôn ngữ toàn dân, phải triệt để chống tiếng lóng và kiên quyết  gạt nó ra khỏi ngôn ngữ văn hóa. Bạn có thể tìm thấy điều này qua giáo trình Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1976), hoặc công trình Tiếng Việt trên đường phát triển (NXB Khoa học Xã hội, 1982) của Nguyễn Văn Tu và Nguyễn Kim Thản.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở Việt Nam, tôi không rõ từ "lóng" trong "tiếng lóng", "nói lóng" xuất hiện từ bao giờ. Nhưng trong Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Của, in năm 1895, đã có từ "nghe lóng", nghĩa là "nghe qua vậy, nghe lóm nghe không chắc", "lóng tai" nghĩa là "lặng (/lắng) tai, nghe cho tỏ rõ", và "hỏi lóng" nghĩa là "hỏi lén",...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong Việt Nam Tự điển, xuất bản năm 1931, đã cắt nghĩa lóng là "thứ tiếng của một bọn dùng riêng với nhau để cho người ngoài không hiểu: tiếng lóng của cô đào. Tiếng lóng của lái lợn. Nghĩa rộng: nghe được câu chuyện người ta nói riêng với nhau gọi là nghe lóng".  Vậy thì, từ 1895, Huình Tịnh Của đã giảng nghĩa "nghe lóng" là nghe lóm, nghe theo cách bí mật, không chính thống, "hỏi lóng" là hỏi  lén, hỏi bí mật, theo cách không chính thống. Đó cũng là cách giải thích cho "nói lóng" là cách nói bí mật, nói theo cách không chính thống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vậy thì, trong tiếng Việt, từ cuối thế kỷ XIX, từ "lóng" đã có cái nghĩa "chuyện riêng tư, thầm kín, không chính thống".&lt;br /&gt;Vỏ ngữ âm của từ "lóng" rất gần với slang. Nhưng chưa có chứng cứ nào chỉ rõ từ lóng bắt nguồn từ slang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do đâu  hình thành từ slang?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vài định nghĩa khác&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    &lt;br /&gt;Từ điển Petit Larousse illustré (1973): "Từ vựng riêng biệt của một nhóm, một nghề hoặc một giai tầng xã hội".&lt;br /&gt;Hiện đại Hán ngữ từ điển (Trung Quốc, 1998) giải thích về li yu (lý ngữ - tiếng lóng): "Những phuơng ngôn thô tục hoặc luu hành hạn hẹp".&lt;br /&gt;Advanced learner's English dictionary (1993): "Các từ, cụm từ rất thân mật, không nghi thức, thuờng dùng trong lời nói, nhất là giữa những nguời cùng một nhóm xã hội, làm việc cùng nhau và không đuợc xem là thích hợp cho những bối cảnh nghi thức, cũng nhu chẳng thể sử dụng lâu dài".&lt;br /&gt;Các từ điển trên không phân biệt tiếng lóng với biệt ngữ và tiếng nghề nghiệp.&lt;br /&gt;Nhà nghiên cứu Da Zhaomin của Trung Quốc (1996) đề xuất cách gọi khác: ấn ngữ / ám ngữ / hắc thoại. Tác giả này chia ra hai loại lớn, gọi là "ẩn ngữ nghề nghiệp" và "ẩn ngữ giang hồ".&lt;br /&gt;(Theo VÕ NGÂN Vuơng)    &lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;Có nhiều giả thuyết về cội nguồn từ này. Xin nêu để các bạn tham khảo.&lt;br /&gt;- Trong tiếng của một tộc người ở Trung Âu gốc Á, sống lang thang (trước đây thường gọi là dân di-gan, dân bô-hê-miêng, dân gipsy), slang là cái lưỡi, là ngôn ngữ.&lt;br /&gt;- Theo các tác giả O. Ritter (1906), K. Werstendorpf (1923), slang chính là cách đọc dính của cụm từ thieves’ language, gypsies’ language.&lt;br /&gt;- Tiếng Thụy Điển có từ slengjenamn có nghĩa là bí danh. Các tiếng Đan Mạch, Na Uy đều có  từ slæng, sleng với nghĩa bóng là ngôn ngữ của riêng từng nhóm người mà phát âm nghe thành slang. Đó có thể là nguồn gốc của từ slang.&lt;br /&gt;- Trong tiếng Pháp thế kỷ XVII, nargue có nghĩa là trộm cắp, sau chuyển thành động từ narguer rồi thành danh từ (un) argot.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Hiện nay người ta quan niệm về tiếng lóng khác đi.&lt;br /&gt;Đó là lớp từ vựng dùng không theo thể thức chuẩn, không theo quy ước như cách dùng thông thường. Chúng là những từ mang những thông tin không chính thức như nghĩa thông thường, có thể là những từ mới hoặc những từ ngữ vốn có nhưng nay được dùng với nghĩa mới, trong một hoàn cảnh mới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dầu muốn hay không, tiếng lóng là một thực tế đầy sinh động tồn tại trong  hầu như bất kỳ ngôn ngữ nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885), trong tác phẩm Le dernier jour d’un condamné (Ngày cuối của một tử tù), in năm 1828, đã từng chú ý sử dụng tiếng lóng. Thậm chí trong bộ tiểu thuyết đồ sộ Les misérables (Những người khốn khổ), in năm 1861, ông để cả chương VII trong phần thứ tư để bàn về tiếng lóng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở Việt Nam, tiếng lóng đã được nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX. Công trình đầu tiên về tiếng lóng trong tiếng Việt là bài viết mang tựa đề L’argot annamite (tiếng lóng trong tiếng An Nam) được đăng năm 1905 trong tập san BEFEO của trường Viễn Đông Bác Cổ (Hà Nội), của học giả nước ngoài J. N. Cheon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1925, học giả Nguyễn Văn Tố (1889-1947) cũng có bài L’argot annamite de Hanoi (Tiếng lóng Việt Nam ở Hà Nội).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 2001, tác giả Nguyên Văn Khang cho xuất bản cuốn Tiếng lóng Việt Nam (NXB Khoa học Xã hội), một cuốn sách có ích cho những ai quan tâm đến tiếng lóng. Song, trong công trình này còn để lại những vấn đề cần bàn bạc thêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     &lt;br /&gt;Victor Hugo: "... Tiếng lóng vừa là một hiện tuợng văn học vừa là một kết quả xã hội. Tiếng lóng, căn bản là gì? Là ngôn ngữ của tiếng lóng khốn cùng. Mọi nghề, mọi nghiệp, có thể mọi ngẫu nhiên của hệ thống xã hội và hết thảy các hình thức của trí tuệ, đều có tiếng lóng của nó. Về phuơng diện thuần túy văn học, nghiên cứu tiếng lóng có thể kỳ thú hơn nhiều khoa học khác..." (trích Những người khốn khổ).    &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, ở Tôi kéo xe  của Tam Lang, rất nhiều tiếng lóng đã được sử dụng. Những thiên phóng sự đặc sắc của Vũ Trọng Phụng như Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Số đỏ (1936), Làm đĩ (1936), Lục xì (1937),… cũng chứa biết bao tiếng lóng.&lt;br /&gt;Nguyễn Đức Dân&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-8863805764454597181?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/8863805764454597181/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/tieng-long-sao-goi-la-long-giao-su.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/8863805764454597181'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/8863805764454597181'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/tieng-long-sao-goi-la-long-giao-su.html' title=''/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/TGIMDD5X_0I/AAAAAAAAAGE/UnWd7qdqunA/s72-c/long2.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-2867468789371349030</id><published>2010-08-06T17:39:00.000-07:00</published><updated>2010-08-06T17:41:23.598-07:00</updated><title type='text'>Viết mơ hồ - một vũ khí ngoại giao</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Viết mơ hồ - một vũ khí ngoại giao&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt; &lt;span style="font-style: italic;"&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;PhẨm chất của những người cầm bút: Viết chính xác, viết không mơ hồ. Điều này  đặc biệt quan trọng với những ai soạn thảo văn bản chính trị, quân sự, ngoại giao, thương mại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ý thức được tầm quan trọng của cách viết rõ ràng , chính xác, có tác giả khi không tránh được một câu mơ hồ đã tìm cách ghi chú thêm cho câu rõ nghĩa. Đổng lý văn phòng triều đình cuối cùng nhà Nguyễn, ông  Phạm Khắc Hoè trong hồi kí Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc đã viết: “Năm (5) tháng trước , khi bản thảo Dụ “Dân vi quý” được nhà vua phê chuẩn […]” ( tr. 62). Rõ ràng là ông e rằng nếu viết “Năm tháng trước” có thể làm người đọc hiểu lầm thành “Những năm, những tháng trước…”. Ông bèn chua số 5 vào trong ngoặc đơn để mọi người đều hiểu ông viết chính xác là “ 5 tháng trước…”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Một câu mơ hồ có thể là nguyên nhân của một cuộc chiến tranh!&lt;br /&gt;Đó là câu chuyện tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan. Sau khi giành được độc lập từ tay thực dân Anh vào năm 1947, bán đảo Ấn Độ được chia thành hai nước là Ấn Độ (đa số là người Hinđu)  và Pakistan (đa số là người Hồi giáo). Hồi đó thủ lĩnh của người Hồi giáo vùng Kashmir là Hari Singh kêu gọi độc lập cho vùng đất này. Vì phải đối phó vất vả với tộc người Pastun  được Pakistan  hậu thuẫn, Hari Singh kêu gọi sự giúp đỡ của Ấn Độ và chấp nhận dưới quyền thống trị của Ấn Độ. Thế là nổ ra cuộc chiến đầu tiên giữa Ấn Độ và Pakistan. Năm 1949, một hiệp định ngừng bắn đầu tiên được kí kết. Theo đó, vùng Kashmir  được chia làm hai phần với đường biên kéo dài từ phía tây Kashmir tới gần hết vùng đất có tranh chấp là  Siachen Glacier, tên một dòng sông băng trên đỉnh núi. Phần lãnh thổ hình tam giác còn lại  được hiệp định phân chia rất mập mờ là “cứ tiếp tục như vậy về phía sông băng” tại khu vực. Từ đó nảy sinh bi kịch. Hai thập kỉ tiếp theo hiệp định đó, chỉ có sự tranh chấp của những người vẽ bản đồ. Nhưng từ đầu thập kỉ 70, khi những người leo núi đầu tiên tới thám hiểm vùng này, người ta nảy sinh ý nghĩ:  Tại sao quân đội lại không thể lên đây? Ngày 13.4.1984 quân đội Ấn Độ đặt chân lên đây, lên đỉnh núi và triển khai quân đội quanh sông băng Siachen. Từ đó có cuộc chiến dai dẳng cho tới nay.&lt;br /&gt;Phải chăng tai hoạ xảy ra vì dịch sai một từ?&lt;br /&gt;    Giai thoại: Tối hậu thư Potsdam gửi cho Nhật do Mỹ, Anh và Trung Hoa kí được công bố ngày 26.7.1945. Bức tối hậu thư buộc Nhật phải chọn một trong hai con đường: Hoặc đầu hàng, hoặc bị tiêu diệt. Hội đồng bộ trưởng Nhật đã họp để thảo luận về tối hậu thư này. Cạnh phe chủ hoà còn có phe chủ chiến  như bộ trưởng Bộ chiến tranh Anami và các tham mưu trưởng nên chỉ đi đến một quyết định tương đối thuận lợi cho con đường hoà bình: Chính phủ không có ý định bác bỏ các yêu cầu của đồng minh.&lt;br /&gt;Tuy nhiên, trong cuộc họp báo vào ngày 28.7.1945, thủ tướng Nhật đương thời là  Kantaro Suzuki  đã tuyên bố một câu là “Hội đồng bộ trưởng tạm thời áp dụng chính sách mokusatsu”. Trong các thứ tiếng Châu Âu, không có một từ nào đồng nghĩa chính xác với từ mokusatsu. Ngay trong tiếng Nhật, nghĩa của từ này cũng rất mập mờ: Nó có thể chỉ sự bác bỏ , mà cũng có nghĩa là  lảng tránh, không bình luận. Do vậy các nhà phiên dịch của Thông tấn xã Nhật Domei  không làm cách nào biết được ý định thực sự của thủ tướng Suzuki. Và bản dịch sang tiếng Anh của họ đã phạm phải một sai lầm quan trọng khi loan tin là chính phủ Nhật quyết định không xem xét tối hậu thư Potsdam .&lt;br /&gt;Thế là trên tờ  Times , cùng ngày 28.7.45 có ngay một bản tin đặc biệt: “Hạm đội đồng minh tấn công ngay vào lúc Tokyo bác bỏ các điều kiện hoà bình.” ( Theo Thế giới mới, số 35, tr.54 – 56).&lt;br /&gt;Thực hư như thế nào là công việc của các nhà lịch sử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản lĩnh của nhà ngoại giao và chính khách:  biết  dùng  câu mơ hồ &lt;br /&gt;Câu chuyện về lựa chọn từ ngữ cho một bản kiến nghị (viết bằng tiếng Pháp và đã đăng trên tờ Le Monde của Pháp, ngày 22.4.1954)&lt;br /&gt;Tháng 3. 1954, một nhóm trí thức   yêu nước Hà Nội  quyết định  viết một bản kiến nghị gửi tới chính phủ Pháp (nhưng lại với danh nghĩa một nhóm trí thức trung lập ở  Hà Nội) yêu cầu điều đình với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà để lập lại hoà bình ở Đông Dương.&lt;br /&gt;Trong bản thảo đầu tiên  có đoạn “Chính phủ Pháp phải điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh”. Có người không tán thành.  Từ “phải” sẽ tố cáo rằng đây không phải là nhóm trí thức trung lập. &lt;br /&gt;Có người  đề nghị đổi thành “yêu cầu hai bên  gặp nhau để…”. Viết  vậy cũng  không ổn vì đã gạt chính phủ bù nhìn của Pháp ra ngoài và chắc chắn phía Pháp không đồng ý.&lt;br /&gt; Nhưng cũng không thể viết là “yêu cầu ba bên  gặp nhau để…”. Viết vậy hóa ra chúng ta gián tiếp công nhận chính phủ bù nhìn của Pháp .&lt;br /&gt;Cuối cùng nhờ sự khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Pháp đã tìm ra chữ “các bên” (les parties): “yêu cầu các bên  gặp nhau để…”.  Với tiếng Việt, viết các bên  thường phải hiểu là ít nhất có ba bên. Tiếng Pháp, viết  “les parties” là đạt yêu cầu vì chỉ hai bên là phải dùng les (các) rồi.  Viết les parties,  ai muốn hiểu thế nào thì hiểu.  (theo HNM, 01.10.1989)&lt;br /&gt;Chọn cách viết mơ hồ cho  bản hiệp định: Quốc quân là gì?&lt;br /&gt;“Chiều ngày 26.02.1946, đoàn đại biểu Đảng cộng sản Trung Quốc do Chu Ân Lai    dẫn đầu đã kí “Phương án cơ bản về việc biên chế lại quân đội và thống nhất biên chế bộ đội Trung Cộng thành Quốc quân”. Từ Quốc quân được Chu Ân Lai dùng mập mờ. Tưởng Giới Thạch biết rằng, chữ “Quốc quân” là  quân đội  quốc gia, chứ không phải quân đội của Quốc dân đảng và do đó ông đã kiên quyết phản đối, ký thì ký, còn tấn công vẫn cứ tấn công, và không khí nội chiến ngày càng tăng” (KTNN, 20.12.95)&lt;br /&gt;Làm thế nào giảm căng thẳng ngoại giao: Sorry nghĩa là gì?&lt;br /&gt;“Ngày 01.4.2001,  máy bay do thám Mỹ xâm nhập vào lãnh thổ Trung Quốc và đụng rớt  máy bay quân sự của nước này. Mỹ đã vi phạm độc lập , chủ quyền của Trung Quốc nên   gây ra một không khí  rất căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Trung … Chính phủ Trung Quốc đòi hỏi Mỹ phải giải thích  và xin lỗi. Khi bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ronald Rumsfeld xuất hiện trên truyền hình nói về vụ này có nhắc tới từ “sorry” thì mối quan hệ này mới bớt căng thẳng đi và lắng dịu lại. Phía Trung Quốc hiểu rằng như vậy là Mỹ đã “xin lỗi”. Nhưng sau đó Ronald Rumsfeld giải thích rằng  sorry chỉ có nghĩa là “lấy làm tiếc”. (Dẫn  Chào buổi sáng,  VTV1, 27.12.2001)&lt;br /&gt;Dùng câu mơ hồ để phê phán tế nhị&lt;br /&gt;Wilson khi làm thống đốc bang New Jersey nhận được cú điện thoại từ Washington, D.C. nói rằng một nghị sĩ bang New Jersey – tức bạn ông- đã qua đời. Ông rất xúc động và huỷ mọi cuộc hẹn trong ngày. Sau mấy phút, ông lại nhận được cú  điện thoại của một chính trị gia New Jersey. Người ấy lắp bắp nói:&lt;br /&gt;“Ông thống đốc, Tôi, tôi hy vọng có thể thay thế vị trí của ông nghị sĩ  nọ.”&lt;br /&gt;Wilson rất bực với thái độ quá “nhanh nhẹn” của y. Ông bèn chậm rãi trả lời:&lt;br /&gt;“Được lắm, nếu nhà quàn đồng ý thì cá nhân tôi cũng nhất trí.”&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-2867468789371349030?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/2867468789371349030/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/viet-mo-ho-mot-vu-khi-ngoai-giao.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/2867468789371349030'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/2867468789371349030'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/08/viet-mo-ho-mot-vu-khi-ngoai-giao.html' title='Viết mơ hồ - một vũ khí ngoại giao'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-4148078234775451968</id><published>2010-07-27T20:27:00.000-07:00</published><updated>2010-07-27T20:28:50.496-07:00</updated><title type='text'>Tiếng Việt có mơ hồ, thiếu chính xác?</title><content type='html'>&lt;p style="text-align: center;" class="pHead"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Tiếng Việt có mơ hồ, thiếu chính xác? &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: right;" class="pHead"&gt;GS.TS Nguyễn Đức Dân&lt;/p&gt;&lt;p class="pHead"&gt;Trong bài này tôi chỉ đề cập tới hiện tượng mơ hồ – một câu có ít nhất hai cách hiểu, chứ chưa bàn tới kiểu &lt;em&gt;người khôn ăn nói “nửa chừng”,&lt;/em&gt; hay làm trai cứ &lt;em&gt;“nước hai”&lt;/em&gt; mà nói. Thứ tiếng nào cũng có những câu mơ hồ. Tiếng Việt không là ngoại lệ. &lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt; &lt;/p&gt;&lt;table class="ImgBoxEmbeddedLeft" id="tblImageBox" style="width: 322px;" align="left" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0"&gt;     &lt;tbody&gt;         &lt;tr&gt;             &lt;td&gt;             &lt;div id="divImageBoxImage"&gt;&lt;a href="http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=110820" shape="rect" rel="lyteshow[vacation]" originalattribute="href" originalpath="/ImageHandler.ashx?ImageID=110820"&gt;&lt;img alt="" class="imgImageBox" id="imgArticleEmbedded" style="border: 0px solid; float: left;" src="http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=110820" originalattribute="src" originalpath="/ImageHandler.ashx?ImageID=110820" complete="complete" width="322" height="496" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;                          &lt;div id="divImageBoxInfo" style="width: 100%; color: red;"&gt;&lt;span class="pCaption" id="spanImageBoxCaption"&gt;Đã từng có quan niệm “tiếng Việt là thứ tiếng của thi ca…” Ảnh minh hoạ: lịch thơ của nhà thơ Nguyễn Duy. &lt;/span&gt;&lt;span class="pImgAuthor" id="spanImageBoxAuthor"&gt;Ảnh: &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;             &lt;/td&gt;         &lt;/tr&gt;     &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;  &lt;p class="pBody"&gt;Đã từng có quan niệm “tiếng Việt là thứ tiếng của thi  ca, tiếng Anh ­– thứ tiếng của thương mại, tiếng Pháp – thứ tiếng của  ngoại giao”. Quan niệm xưa cũ này vừa khen lại vừa chê tiếng Việt: một  thứ ngôn ngữ nhiều hàm ý thích hợp với đặc thù “ý tại ngôn ngoại” của  ngôn ngữ thơ ca, nhưng cũng chính vì thế mà thiếu chính xác, mơ hồ trong  diễn đạt.&lt;/p&gt; &lt;p class="pInterTitle"&gt;Ngôn ngữ nào cũng mơ hồ&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Hẳn bạn biết không ít truyện cười do có những câu không  biết hiểu thế nào cho đúng. Nghe câu “Ba về làng hỏi vợ” quả là chúng  ta không biết Ba về làng để cầu hôn hay xin ý kiến bà xã.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Năm 1969, trong một quyển sách nghiên cứu về ngữ pháp  tạo sinh trong tiếng Anh, R. Jacobs và P. Rosenbaum đã chỉ ra câu tiếng  Anh sau đây có sáu cách hiểu: “The seniors were told to stop  demonstrating on campus”. Còn Iu. Aprexjan, nhà ngôn ngữ học Nga trong  quyển sách &lt;em&gt;Những quan niệm và phương pháp của ngôn ngữ học cấu trúc hiện đại&lt;/em&gt;  xuất bản năm 1966 đã đưa ra một câu tiếng Nga có tới… 32 cách giải  thích khác nhau kia đấy! Theo phép chuyển tự chữ Nga sang chữ Latinh câu  này như sau: “Splochenie rabochikh brigad vyzvalo osuzhdenie  tovarishcha ministra” (sự hợp nhất – của công nhân – của các đội – đã  gây ra – sự phán xét – của đồng chí – của bộ trưởng).&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Có sự mơ hồ do những từ &lt;em&gt;đồng âm&lt;/em&gt;. Khi ông thầy bói gieo cho bà lão móm tính chuyện đi bước nữa một quẻ “&lt;em&gt;Lợi thì có lợi&lt;/em&gt; (nhưng răng không còn)” ấy là ông đã chơi chữ trên hai từ &lt;em&gt;lợi&lt;/em&gt;  đồng âm. Số lượng từ đồng âm trong nhiều ngôn ngữ lớn gấp nhiều lần so  với tiếng Việt. Tiếng Hàn chẳng hạn. Trong tiếng Hàn có rất nhiều từ gốc  Hán. Tiếng Hán có bốn thanh, còn tiếng Hàn thì không. Mà chữ Hàn là thứ  chữ ghi âm. Thế là rất nhiều từ Hán cùng vần khác thanh khi vào tiếng  Hàn liền trở thành những từ đồng âm. Người Hàn đọc chữ Hàn nhiều khi  cũng chẳng hiểu đích thực nghĩa. Ví dụ: có nhiều tiếng Hàn phát âm là &lt;em&gt;sung &lt;/em&gt;nên khi viết từ &lt;em&gt;Samsung &lt;/em&gt;công ty này đã phải chữ Hán tinh vào sau chữ &lt;em&gt;sung&lt;/em&gt; để người đọc hiểu rằng &lt;em&gt;Samsung&lt;/em&gt; là &lt;em&gt;tam tinh&lt;/em&gt;. Logo của Samsung là ba ngôi sao.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Giữa các ngôn ngữ tự nhiên có &lt;em&gt;những kiểu mơ hồ giống hệt nhau&lt;/em&gt;.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Mơ hồ ở cấp độ cụm từ. Một &lt;em&gt;cụm từ&lt;/em&gt; có thể dùng  thể hiện nhiều kiểu quan hệ ngữ pháp khác nhau. Đây là hiện tượng mơ hồ  ngữ pháp. Khi viết “sự phê bình truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan” chúng  ta đã tạo ra một cụm từ mơ hồ. Người đọc không biết nên hiểu là “Nguyễn  Công Hoan viết bài phê bình các truyện ngắn” hay “người ta phê bình các  truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan”. Tương tự danh ngữ tiếng Anh the &lt;em&gt;shooting of the hunters&lt;/em&gt;, tiếng Pháp &lt;em&gt;le tir des chasseurs&lt;/em&gt; hoặc tiếng Nga str&lt;em&gt;el’ba okhotnikov &lt;/em&gt;đều có thể hiểu là sự bắn là của người đi săn mà cũng có thể hiểu là sự bắn &lt;em&gt;người đi săn&lt;/em&gt;.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Mơ hồ ở cấp độ câu. Lấy câu so sánh làm ví dụ. Khi viết: “Tôi cũng thích trà như &lt;em&gt;càphê&lt;/em&gt;” thì trà và càphê là hai đối tượng mà tôi thích như nhau. Khi viết: “Tôi cũng thích trà như &lt;em&gt;anh&lt;/em&gt;” thì trà là đối tượng mà cả &lt;em&gt;anh &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;tôi &lt;/em&gt;đều thích. Còn câu “Tôi cũng thích &lt;em&gt;cô ấy&lt;/em&gt; như &lt;em&gt;anh&lt;/em&gt;” chấp nhận cả hai cách giải thích nên nó thành mơ hồ. Hoặc là &lt;em&gt;cô ấy&lt;/em&gt; và &lt;em&gt;anh&lt;/em&gt;  là hai người mà tôi thích như nhau. Hoặc là tôi và anh thích cô ấy như  nhau. Trong tiếng Pháp và tiếng Anh, lối so sánh này cũng mơ hồ y hệt  như vậy.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Có thể dẫn ra hàng loạt kiểu mơ hồ giống nhau giữa các ngôn ngữ tự nhiên. Tuy nhiên, &lt;em&gt;ngôn ngữ nào cũng có những kiểu mơ hồ đặc thù&lt;/em&gt;.  Cách đây hơn 50 năm, nhà văn hoá Phan Khôi đã “kiểm thảo đại danh từ”  tiếng Việt. Theo ông, nó rắc rối quá. Vào một nhà lạ chẳng biết xưng hô  thế nào với từng người cho phải phép, cho hợp với quan hệ tôn ti của họ  trong gia đình ấy. Nhưng chính vì cách xưng hô khá tinh tế và mang màu  sắc tôn ti, trọng – khinh, thân – sơ… này mà số lượng những câu mơ hồ  liên quan đến lớp đại từ sở hữu ở tiếng Việt ít hơn hẳn so với các tiếng  Nga, Anh, Pháp – những ngôn ngữ có lớp đại từ trung hoà về sắc thái  nghĩa.&lt;/p&gt; &lt;p class="pInterTitle"&gt;Vì sao nói tiếng Việt chính xác?&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt; &lt;/p&gt;&lt;table id="table1" width="50%" align="right" border="0" cellpadding="5" cellspacing="5" height="31"&gt;     &lt;tbody&gt;         &lt;tr&gt;             &lt;td style="background-color: rgb(227, 237, 247);"&gt;             &lt;p class="pBody" style="text-align: justify;"&gt;Nghe câu “Ba về làng hỏi vợ” quả là chúng ta không biết Ba về làng để cầu hôn hay xin ý kiến bà xã.&lt;/p&gt;             &lt;/td&gt;         &lt;/tr&gt;     &lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;  &lt;p class="pBody"&gt;Nếu thiếu từ ngữ diễn đạt những khái niệm mới thì chúng  ta vay mượn. Điều này đã và đang xảy ra với mọi ngôn ngữ. Vấn đề còn  lại chỉ là khả năng diễn đạt chính xác của tiếng Việt. Tuy có những hiện  tượng mơ hồ, nhưng phần lớn khi đặt trong tình huống giao tiếp cụ thể,  hiện tượng mơ hồ đều mất đi. Hãy lấy hai câu khác nhau đúng một phụ âm  cuối: “Chú tôi bị Mỹ bắn trong lúc đi càn” và “Chú tôi bị Mỹ bắn trong  lúc đi cày”. Về lý thuyết hai câu này đều mơ hồ: Mỹ hay chú tôi đi  càn/đi cày? Nhưng trong thực tế không có chuyện “Mỹ đi cày” ở Việt Nam  nên câu sau là rõ ràng.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Hơn nữa, tiếng Việt có những phương thức diễn đạt chính  xác và rõ ràng nội dung cần thông báo. Đó là phương thức dùng dấu câu,  dùng trật tự từ, dùng từ hư, từ đồng nghĩa, thay đổi cấu trúc câu… Một  ví dụ: “Ba đã biếu thầy giáo chủ nhiệm lớp bảy quyển sách mới mua hôm  qua”. Nếu muốn nói rõ “bảy quyển sách” chứ không phải là “Thầy giáo chủ  nhiệm lớp bảy”, và đây là “sách mới” chứ không phải là “mới mua” thì chỉ  cần thêm hai &lt;em&gt;dấu phẩy&lt;/em&gt;: Ba đã biếu thầy giáo chủ nhiệm lớp, bảy  quyển sách mới, mua hôm qua. Nếu muốn nói là “biếu hôm qua” chứ không  phải “mua hôm qua” thì chỉ việc đảo trật tự: &lt;em&gt;Hôm qua&lt;/em&gt; ba đã biếu  thầy giáo chủ nhiệm lớp, bảy quyển sách mới mua. Nếu muốn nhấn mạnh tới  mới mua thì hãy dùng cách thêm/thay từ: Hôm qua ba đã biếu thầy giáo  chủ nhiệm lớp, bảy quyển sách vừa mới mua.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Thực tế, chúng ta đã và đang dùng tiếng Việt để diễn  đạt chính xác những văn bản quan trọng về ngoại giao, quân sự, thương  mại, luật pháp… Tiếng Việt có đầy đủ khả năng diễn đạt chính xác những  điều cần bộc lộ.&lt;/p&gt; &lt;p class="pBody"&gt;Bài này chưa bàn đến cách khai thác hiện tượng mơ hồ trong ngôn từ nghệ thuật.&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-4148078234775451968?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/4148078234775451968/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/07/tieng-viet-co-mo-ho-thieu-chinh-xac.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/4148078234775451968'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/4148078234775451968'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/07/tieng-viet-co-mo-ho-thieu-chinh-xac.html' title='Tiếng Việt có mơ hồ, thiếu chính xác?'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-7566728394411397553</id><published>2010-06-29T18:43:00.000-07:00</published><updated>2010-07-06T00:58:25.551-07:00</updated><title type='text'>Dạy chữ Hán hay dạy từ Hán-Việt</title><content type='html'>&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Dạy chữ Hán hay dạy từ Hán-Việt ?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Đức Dân&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên TTCT (27.6.2010) PGS TS Đoàn Lê Giang viết bài “Cần khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường”, trong đó nói người Hàn và người Nhật cũng dạy chữ Hán cho học sinh trung học (HSTH). Tác giả viết “chừng nào chúng ta còn coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc, chừng nào chúng ta còn nhìn các nước Đông Á như những cái mốc cần phải đuổi kịp thì chừng ấy chúng ta còn cần phải dạy chữ Hán”. Tôi đồng ý một phần với bài viết này: Trong trường trung học  cần dạy  từ Hán-Việt nhưng không cần dạy chữ Hán.&lt;br /&gt;Người Hàn, người Nhật dạy chữ Hán cho HSTH là cần thiết nhưng người Việt thì không vì chữ Việt không giống chữ Hàn hay chữ Nhật.&lt;br /&gt;Hangul là chữ viết của người Hàn, cũng là thứ chữ ghi âm. Cũng như tiếng Việt, rất nhiều từ tiếng Hàn có gốc Hán. Tiếng Hán có 4 thanh còn tiếng Hàn  không có thanh điệu  nên những từ cùng vần khác thanh khi nhập vào tiếng Hàn sẽ thành những  từ đồng âm, dẫn tới nhiều hiện tượng mơ hồ trên mặt chữ. Khi cần chính xác, trong những văn bản khoa học người ta thường chua thêm chữ Hán sau những cụm từ quan trọng. TS    Trần Văn Tiếng nêu ví dụ: Trong tiếng Hàn,  có nhiều  từ phát âm là  sung nên công ty Samsung khi viết từ này đã phải chua chữ Hán tinh vào cuối để người đọc hiểu rằng Samsung  là tam tinh. Logo của Samsung là ba  ngôi sao. Không biết những chữ Hán cơ bản thì chính người Hàn cũng không đọc hiểu được chữ Hàn nên học sinh Hàn cần học tiếng Hán. Còn người Việt  không biết chữ Hán vẫn có thể đọc thông thạo chữ Việt dù không hiểu một số từ nào đó.  Hiện nay nhiều người dùng sai từ Hán-Việt vì không hiểu nghĩa của chúng chứ không phải vì không biết chữ Hán. Chúng ta chỉ cần biết nghĩa chứ không cần biết mặt chữ Hán của những từ Hán-Việt (từ  Việt gốc Hán).  Nhiều nhà nghiên cứu nói rằng, trong tiếng Việt có khoảng 60% - 70% từ gốc Hán. Có học 1000 chữ Hán thì vẫn còn dăm  nghìn chữ chưa biết. Hiểu nghĩa của một từ Hán-Việt dễ dàng hơn rất nhiều so với công sức bỏ ra để nhớ mặt chữ, hiểu nghĩa  và viết  nó (sao cho không như gà bới). Thời gian bỏ ra để học 1.000 chữ Hán ít nhất  có thể dùng để học 5 000 từ Hán-Việt. Chương trình học hiện nay vốn đã nặng nề, dạy thêm chữ Hán lại càng thêm nặng nề. Hơn nữa, biết mặt chữ Hán không phải là điều kiện cần để giữ gìn   bản sắc văn hóa dân tộc. Do vậy, để học sinh hiểu sâu sắc hơn tiếng Việt, chỉ cần dạy từ Hán-Việt. &lt;br /&gt;Chúng ta dạy những gì? Hãy dạy những gì để người Việt không mắc những lỗi do thiếu hiểu biết về từ Hán-Việt.&lt;br /&gt;3.1    Dạy những từ cơ bản, thường dùng trong đời sống và những từ có trong sách giáo khoa trung học.&lt;br /&gt;3.2    Hiện tượng đồng âm  giữa yếu tố Hán-Việt với yếu tố thuần Việt  thường dẫn tới hiểu lầm nghĩa.  Cần đặc biệt chú ý dạy nghĩa của lớp từ này.&lt;br /&gt;Ví dụ:   Yếu, cứu vừa là từ Hán-Việt vừa là từ  thuần Việt. Ấy vậy nên “yếu nhân”  hiểu lầm là người yếu,  còn “yếu điểm” là điểm yếu, nhược điểm, “cứu cánh” được hiểu là cứu vớt, cứu giúp. Từ Hán-Việt  “yếu” có nghĩa là “quan trọng” (nghĩa này có  trong   chính yếu, cơ yếu, cần yếu, trích yếu, kỷ yếu, thiết yếu,  yếu địa, yếu lĩnh, cốt yếu, thứ yếu…). Còn  “cứu cánh” là “mục đích cuối cùng”&lt;br /&gt;Có rất nhiều từ gần âm,  do không hiểu nghĩa nên dễ dùng chệch sang một từ gần âm khác quen dùng: nhậm chức ® nhận chức, kiểm sát  ® kiểm soát, tinh tuý ® tinh tú, ưu đãi ® chiêu đãi, huy hiệu ® danh hiệu,  tham quan  → thăm quan (Hàng ngày, chàng đội lốt gấu, đi đi lại lại, làm một số trò cho khách thăm quan”. (Báo, số 25, tháng 3.99).&lt;br /&gt;     3.3  Đặc biệt cần lưu ý những hiện tượng liên quan tới trật tự từ.&lt;br /&gt;     3.3.1 Không thấy tầm quan trọng của trật tự các yếu tố trong từ Hán-Việt, nên có những cách hiểu mơ hồ, lầm lẫn ở nhiều người, kể cả những người cầm bút:  nhân văn / văn nhân, nhân tình / tình nhân, thân nhân/ nhân thân, chính quốc / quốc chính,  công nhân/nhân công (“Sáu đối tượng bị bắt tại chỗ trong số gần cả trăm nhân công tháo chạy tán loạn” (Báo, 16.12.03).  Nhân công  là “sức người” sao lại có thể tháo chạy được?  quốc đảo/đảo quốc (“Philippin, Inđônêxia là hai quốc đảo” Lẽ ra “…là hai đảo quốc”);   Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, năm 1992, ghi rằng chứng nhân / nhân chứng  đều là “người làm chứng”. Thật ra chỉ chứng nhân mới là người làm chứng, (thường cho những sự kiện lớn, “những chứng nhân lịch sử”), còn nhân chứng  là chứng cứ của người (làm chứng). Hầu như hiện nay mọi người đều dùng “nhân chứng” để chỉ “người làm chứng”. Phải chăng vì sai lâu rồi nên nay đã thành đúng?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    3.3.2  Khi nhập vào tiếng Việt, nhiều từ Hán-Việt được hiểu theo lối dùng thuần Việt dẫn tới khác trật tự  tiếng Hán gốc.  Ví dụ: Nếu như tiếng Việt là thời tiền sử (thời kì chưa có sử), tiền khởi nghĩa (trước khởi nghĩa),  tiền tư bản (trước chủ nghĩa tư bản) thì tiếng  Hán là sử tiền, khởi nghĩa chi tiền, tư bản chủ nghĩa dĩ tiền.&lt;br /&gt;          Từ đây cần đặc biệt quan tâm tới những hiện tượng chuyển  nghĩa, biến đổi của từ Hán-Việt. Chẳng hạn, từ những cách hiểu “dân gian”, nhiều  từ Hán Việt biến đổi  theo một cái lí nào đó và nay được được coi là chuẩn: chúng cư ® chung cư,  trú sở ® trụ sở, thống kế ® thống kê, …(hàng loạt từ có yếu tố kế chỉ công cụ đo đạc: điện kế, nhiệt kế, áp kế, vol kế, lực kế...)&lt;br /&gt;Nhà cao tầng, hươu cao cổ là những  từ thuần Việt, nhưng cách cấu tạo lại phỏng theo trật tự Hán Việt: cao ốc, cao lâu (nhà có gác cao), cao đường (nhà lớn)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      3.4 Cần dạy những thành ngữ, tục ngữ cơ bản gốc Hán, vì có quá nhiều người hiểu chúng rất lơ mơ: an nhiên tự tại (thư thái, không có điều gì lo phiền), bách bộ xuyên dương ([Dưỡng Do Cơ thời Chiến Quốc có tài bắn cung] cách trăm bước vẫn trăm phát trăm trúng  lá liễu được chọn), bách niên giai lão (trăm tuổi đều già = lời chúc sống trọn đời bên nhau), ý tại ngôn ngoại (lời bên ngoài còn ý ở bên trong) , xập xí xập ngầu ( đọc theo âm Quảng Đông của thành ngữ Hán thập tứ thập ngũ = lèm nhèm trong tính toán, bớt xén của người khác), vô kế khả thi (không cách gì giải quyết), ưu thời mẫn thế (ưu = lo, mẫn = thương xót, lo lắng đau lòng trước sự đời và thời cuộc), trầm tư mặc tưởng (trầm = chìm, mặc = im lặng, lặng lẽ tập trung suy nghĩ),  tam bành lục tặc (tam bành = ba thần Bành Kiêu, Bành Cứ, Bành Chất chuyên sui khiến con người làm những việc sằng bậy, lục tặc = 6 điều  làm người ta sa ngã, tu hành không đắc đạo: sắc, thanh, hương, vị xúc, pháp), nhất tự thiên kim (một chữ đáng ngàn vàng = văn chương tuyệt hay)… &lt;br /&gt;Dạy từ Hán-Việt  thế nào?&lt;br /&gt;4.1     Dạy các tự và cách kết hợp chúng thành từ. Căn cứ theo mặt chữ mà chia mỗi tự (chữ) thành các nhóm nghĩa. Dạy nghĩa thông qua những ví dụ. Tùy theo trình độ, khi dạy cố gắng liên hệ với nghĩa của những từ thuần Việt. Chẳng hạn: Có 4 từ quy. 1) về, trở về: quy tiên (về với ông bà ông vải, về chín suối) , quy hàng, hồi quy, đồng quy, quy nạp, quy kết, quy ra vàng, quy về một mối…2) phép tắc, hoạch định: quy cách, quy chế, quy luật, quy phạm, nội quy, phạm quy, quy hoạch, quy định…3) rùa: thần Kim quy,  4) theo: quy y, quy Phật, quy tăng, tam quy…&lt;br /&gt;   4.2  Dạy từ Hán-Việt, nhất là dạy những từ quen dùng, nếu chú ý tới nguồn gốc,  gắn nghĩa đen với nghĩa bóng trong  quá trình hình thành ý nghĩa sẽ gây hứng thú và giúp học sinh nhớ lâu.  Ví dụ 1: Trong từ cổ đông, từ cổ  – một phần vốn trong số vốn được tập hợp lại, còn đông – người chủ.  (Thời xưa, người Trung Hoa có phong tục khi tiếp khách thì chủ ngồi phía đông, khách ngồi phía tây. Người thuê nhà gọi người chủ là đông gia.) Như vậy: cổ đông – pháp nhân là chủ sở hữu một số cổ phiếu. Ví dụ 2: Trong từ tục huyền, từ tục – nối tiếp, huyền – dây đàn. Vậy nghĩa đen của tục huyền là “nối lại dây đàn”. Có sự liên tưởng:  Cuộc đời người đàn ông bị gián đoạn (vợ chết) tựa như dây đàn bị đứt, việc  lấy vợ một lần nữa tựa như “nối lại dây đàn”. Do vậy theo cách ẩn dụ, tục huyền  nghĩa là  người đàn ông sau khi vợ mất  đi lấy vợ khác.&lt;br /&gt;       5. Những công việc cấp thiết cần làm: 1) Nếu coi việc giảng dạy từ Hán-Việt là quan trọng và cấp thiết thì Bộ Giáo dục không nên xây dựng những chương trình, những  dự án cấp “quốc gia”, cấp “nhà nước” với những  “hội đồng” này nọ đứng đầu là các nhà quản lí, theo kinh nghiệm sẽ lãng phí rất nhiều tiền của và thời gian  mà chất lượng sẽ không bằng  dăm ba chuyên gia thực thụ soạn thảo đề cương rồi  tổ chức cuộc thi viết sách dạy từ Hán-Việt cấp trung học. Như vậy, sẽ  có bộ sách giáo khoa tốt dạy kèm theo chương trình ngữ văn.   2) Chỉnh lí, bổ sung  những từ điển  công cụ đã có về từ Hán Việt  và viết   thêm những sách mới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;tư liệu:&lt;br /&gt;     - Lê Xuân Thại có nhiều bài về tìm hiểu những từ Hán-Việt cụ thể. (NGÔN NGữ, 2009, 2010) &lt;br /&gt;từ nguyên vừa phải: vu quy, chỉ cần biết  chữ quy&lt;br /&gt;quy: về → thu gọn: qui về một mối, vun lại, gộp lại. cải tà qui chính,&lt;br /&gt;Nhiều từ Hán-Việt có nghĩa khác đi so với nghĩa gốc: bức xúc, lí sự (NN,12.09)&lt;br /&gt;Rất khó về từ nguyên: chuẩn bị&lt;br /&gt;(Bài này đăng trong báo Tuổi Trẻ 7/2010, ở mục &lt;em&gt;Tiếng nước tôi&lt;/em&gt;)&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-7566728394411397553?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/7566728394411397553/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/06/day-chu-han-hay-day-tu-han-viet.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/7566728394411397553'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/7566728394411397553'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/06/day-chu-han-hay-day-tu-han-viet.html' title='Dạy chữ Hán hay dạy từ Hán-Việt'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-598005897388166305</id><published>2010-06-16T03:00:00.000-07:00</published><updated>2010-06-16T03:02:11.500-07:00</updated><title type='text'>Những câu nói ấn tượng nhất tại Quốc hội</title><content type='html'>Những câu nói ấn tượng nhất tại Quốc hội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS TS Nguyễn Đức Dân&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi kính trọng đại biểu (ĐB)  Nguyễn Đình Xuân khi dũng cảm công khai đề nghị Quốc hội xem xét chỉ số tín nhiệm ông bộ trưởng là cấp trên trực tiếp của mình với tuyên bố ‘bộ trưởng đã không hoàn thành nhiệm vụ với tư cách bộ trưởng quản lí rừng của đất nước.’ (TT, 12.6.2010)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để ủng hộ dự án đường sắt cao tốc, ĐB Trần Tiến Cảnh lập luận ‘Những nơi có chỉ số IQ cao thì họ có đường sắt cao tốc. Việt Nam ta cũng có chỉ số IQ cao.’ (VN Economy, 8.6.2010) Tiền đề thứ nhất của lập luận trên là một lí lẽ bừa bãi, vô căn cứ. ĐB Nguyễn Minh Thuyết: ‘Tôi xin nói thật với Quốc hội là chỉ số IQ của tôi hơi thấp, nên chắc chắn tôi không tán thành dự án này’.  ĐB Thuyết đã nói ngược theo cách châm biếm vì ông là giáo sư tiến sĩ. Và đây là bằng cấp loại I.&lt;br /&gt;Xin được mở một dấu ngoặc kép: Ở ta có nhiều loại bằng: Trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ,…Nhưng  tôi chỉ phân biệt  hai loại bằng: Loại I, bằng cấp có trước lúc làm quan, nghĩa là đi học rồi mới làm quan. Loại II, bằng cấp có sau lúc làm quan, nghĩa là làm quan rồi mới đi học. Ông Thuyết là giáo sư tiến sĩ trước khi là ĐB Quốc hội, nên ông có bằng loại I, chỉ số IQ của ông hẳn không thể ‘hơi thấp’. Điều này còn thấy qua cách ông Thuyết dùng ngay cái lí lẽ tùy tiện này để phản đối ý kiến của ông Trần Tiến Cảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Trước những bức xúc của các ĐB Quốc hội về những cái sai cực kì trầm trọng cần được xử lí, thậm chí có những cái sai  liên quan  tới vận mệnh dân tộc được ĐB Dương Trung Quốc nhắc lại bài học cảnh giác từ câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy,…Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng nói: “Tôi đồng ý xử nghiêm. […] Nghiêm ở đây không có nghĩa sai là “chặt chém”  ngay, như vậy thì hết người, không có người để làm.” (TT, 13.6.2010)&lt;br /&gt;Tôi giật mình. Câu này có nghĩa là hầu hết  cán bộ chúng ta đều sai và làm sai nhiều quá. Và câu này còn chuyển tải một thông điệp trong con mắt của những người đứng đầu đất nước,  không còn người thay thế họ để đảm trách công việc đất nước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi không có tầm nhìn  50 năm. Thể theo luận điểm của ĐB Trần Tiến Cảnh,  tôi “hi vọng” là hiện nay chỉ số IQ -chỉ số thông minh- của người Việt Nam thấp để khỏi phải xây dựng đường cao tốc tốn 56 tỉ USD. Tôi mơ phần Hà Nội mở rộng sẽ thành một đại công viên làm nên lá phổi xanh khỏe mạnh cho thủ đô, và chúng ta khỏi tốn một dự án 90 tỉ USD cho quy hoạch Hà Nội. (VietNamNet, 4.6.2010) Với tầm nhìn hạn hẹp, tôi mong Nhà nước đầu tư  dăm bảy tỉ USD cho ngành giáo dục đại học (là quốc sách) để nhanh chóng trong vòng 20 năm nữa Việt Nam có trường đại học lọt vào tốp 200 của châu Á. Thế thôi.   Như vậy con cháu chúng ta sẽ không phải è lưng è cổ kéo cày trả nợ cho những kế hoạch vĩ đại  và những tầm nhìn xa nửa thế kỉ của cha ông chúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người viết: GS TS Nguyễn Đức Dân&lt;br /&gt;                   118/12 Trần Quang Diệu, Quận 3, Tp HCM&lt;br /&gt;                   điện thoại: a) (08) 38 42 26 37 ; b) 0919 42 02 74&lt;br /&gt;Tôi viết bài này trước bức xúc mấy ngày nữa Quốc hội lại bỏ phiếu thông qua dự án đường cao tốc, rồi xây dựng trung tâm hành chính của Hà Nội ở Ba Vì, và đáng sợ nhất là lại bỏ phiếu theo kiểu bỏ phiếu “mở rộng thủ đô Hà Nội” hai năm trước đây.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-598005897388166305?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/598005897388166305/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/06/nhung-cau-noi-tuong-nhat-tai-quoc-hoi.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/598005897388166305'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/598005897388166305'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/06/nhung-cau-noi-tuong-nhat-tai-quoc-hoi.html' title='Những câu nói ấn tượng nhất tại Quốc hội'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-3179806180306319387</id><published>2010-04-14T21:23:00.000-07:00</published><updated>2010-07-06T01:01:40.371-07:00</updated><title type='text'>Triết lí tiếng Việt  trong  một thành ngữ “phi lô gích”</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S8aVfrikOpI/AAAAAAAAAF0/23yJBZEatss/s1600/IMG_0100.jpg"&gt;&lt;img style="float: left; margin: 0pt 10px 10px 0pt; cursor: pointer; width: 200px; height: 150px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S8aVfrikOpI/AAAAAAAAAF0/23yJBZEatss/s200/IMG_0100.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5460215969729493650" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Triết lí tiếng Việt &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;trong thượng cẳng chân hạ cẳng tay&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS.TS Nguyễn Đức Dân&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi thường  nghe nhiều lời bình (và cả một số bài viết) về những hiện tượng “phi lí”, “thiếu lô gích” ở tiếng Việt. Trong số này có thành ngữ (TN) thượng cẳng chân, hạ cẳng tay. Chân thấp tay cao,  sao lại là thượng cẳng chân? Có giáo sư giải thích rằng chân đá hất lên cao, tay đập xuống nên mới nói vậy. Và cũng có bài viết theo như thế. Bạn có thể hỏi cắc cớ thế chân đạp, tay thụi có phải là thượng cẳng chân, hạ cẳng tay  không? Cái “phi lí” của TN này mạnh đến nỗi hai nhà nghiên cứu văn học dân gian NL và LVĐ trong quyển từ điển Thành ngữ tiếng Việt (1978, nxb KHXH) được đánh giá cao, khi trích dẫn TN này cũng đã sửa lại cho nó “lô gích” hơn (?): “Bà cai Hách không dám hé răng nửa lời, vì cai Hách là kẻ phàm phu, chỉ biết có thượng cẳng tay, hạ cẳng chân (Vũ Trọng Phụng, Giông Tố)”. Quyển Từ điển thành ngữ Việt Nam (1993, nxb VH) của một nhóm tác giả thuộc Viện NNH cũng dùng lại lời trích dẫn đã bị sửa lại này. (Hay  những tư tưởng  sai  thì gặp nhau?) Thật ra nhà văn họ Vũ viết  “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” (GT, chương 27).&lt;br /&gt;Tôi tâm đắc câu cái gì hợp lí thì tồn tại của triết gia người Đức G.W. Leibniz và đi tìm cái lí cho những cách nói có vẻ “phi lí” nhưng vẫn được dùng rất bình thường này.&lt;br /&gt;  Trước hết, mời các bạn quan sát và trả lời những câu hỏi sau:&lt;br /&gt;Trong vở Thị Màu lên chùa, người mõ “chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ, Tây Đông, con gái phú ông là Thị Màu không chồng mà chửa…” Vì sao lời trình thượng hạ, Tây Đông là lời trình tới cả làng?&lt;br /&gt;Tô Hoài viết “Họ buôn ghê lắm, thượng vàng hạ cám. Từ cái bát ăn đến sợi tơ bóng, tơ mờ của Nhật nhà cậu vẫn làm đấy…” (Mười năm) Vì sao buôn thượng vàng hạ cám  được  hiểu là buôn đủ mọi thứ?&lt;br /&gt;          Nghĩa của câu “Làm trai cho đáng nên trai // Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên” là “tài trai là đi tới nơi nào liền đưa lại yên bình cho nơi đó” Vì sao xuống Đông lên Đoài được hiểu là đi khắp  nơi?&lt;br /&gt;    Vì sao “đầu đuôi câu chuyện” được hiểu là “toàn bộ câu chuyện”?&lt;br /&gt;Và một bài thơ tứ tuyệt châm biếm:&lt;br /&gt;“Khen ai khéo khéo tạc con voi&lt;br /&gt;Có đủ cả đầu đủ cả đuôi&lt;br /&gt;Chỉ có cái kia là chẳng thấy&lt;br /&gt;Hay là thầy Lý bớt đi rồi?”&lt;br /&gt;Vì sao chỉ cần “có đủ cả đầu đủ cả đuôi” là thành con voi? Thiếu những bộ phận khác chỉ là chuyện vặt, không ăn nhằm gì.  Người ta nhắc tới “cái kia” cốt châm biếm thầy Lý hay bớt xén,  ăn bẩn của dân. Vậy thôi.&lt;br /&gt;Tục ngữ “Con vua vua dấu, con châu chấu châu chấu yêu” có nghĩa  “Mọi sinh vật đều yêu con cái mình.”   Vì sao cặp từ vua-châu chấu được hiểu là mọi sinh vật?&lt;br /&gt;Còn “Chuyện bậy bạ của quan chức X chỉ một hôm là trong Nam ngoài Bắc đều biết”  có nghĩa “…chỉ một hôm cả nước đều biết.” Vì sao cặp từ Nam-Bắc lại là cả nước?&lt;br /&gt;       &lt;br /&gt;  Chúng ta qui nạp: các cặp từ thượng - hạ, đầu - đuôi, Đông- Đoài, Nam – Bắc, vua – châu chấu, …giống nhau ở chỗ đều trỏ hai cực của một chỉnh thể và chung  nghĩa “tất cả”. Vậy  đã rõ: Người Việt có triết lí lấy  hai cực để biểu trưng  tổng thể và tạo ra nghĩa tất cả.  Chúng ta nêu vài ví dụ:&lt;br /&gt;Đất nước hình chữ S có hai cực Bắc – Nam, nên câu “Từ Bắc chí Nam  người ta đều làm thế” có nghĩa   “Cả nước đều làm thế”.&lt;br /&gt;Theo chiều thẳng đứng có hai cực trên – dưới, nên câu “Trên dưới một lòng” được hiểu  là “Mọi người đều một lòng”.&lt;br /&gt;Theo  phương mặt trời mọc lặn có hai cực Đông – Tây (Đoài là phương Tây),  nên “chuyện Đông, chuyện Tây” là chuyện đủ mọi nơi trong thiên hạ. Còn “xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên” có nghĩa là “đi đến nơi nào là dẹp yên loạn lạc nơi đó”.&lt;br /&gt;Theo trục thời gian có hai cực xưa – nay, trước – sau nên “Lệ làng này xưa nay là vậy” có nghĩa là “Mọi thời, lệ làng này là vậy”. Còn “Trước sau vẫn vậy”  nghĩa là “luôn luôn vậy”.&lt;br /&gt;Theo phương nhìn thẳng có hai cực trước – sau nên “Trước sau nào thấy bóng người”  nghĩa là “không thấy một ai quanh ta”. Còn “Mắt trước  mắt sau” là “để ý tới mọi phương” (và chuẩn bị chuồn).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghĩa của  “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” được hình thành thế nào?&lt;br /&gt;TN này có hai cặp từ (thượng, hạ) và (cẳng chân, cẳng tay). Cặp (thượng, hạ) trỏ tổng thể. Còn cẳng chân, cẳng tay là những bộ phận cơ bắp nên trỏ hành động đánh đập (giới ngôn ngữ học gọi là biểu trưng hành động đánh đập). Trong truyện ngắn Một bữa no đòn, Nguyễn Công Hoan đã viết “Chửi. Kêu. Đấm. Đá. Thụi. Bịch. Cẳng chân. Cẳng tay.” Ghép hai phần nghĩa này lại, sẽ được nghĩa của TN trên: Về tổng thể là những hành động đánh đập vũ phu. Khi định nghĩa TN này nhiều người chua thêm đó thường là hành động của đàn ông đối với vợ con.  Đáng buồn là tôi phải bỏ chi tiết này cho “phù hợp” với nạn bạo lực học đường, nhất là kiểu đánh hội đồng có nhiều nữ sinh cũng thượng cẳng chân hạ cẳng tay như ai, ngày càng phát triển ở ta hiện nay.&lt;br /&gt;Nhiều TN có  nghĩa được hình thành từ những cặp từ biểu trưng và chúng ta dễ dàng giải thích  nghĩa của chúng. Ví dụ:&lt;br /&gt; (Những mảnh ruộng, mảnh vải… ) đầu thừa đuôi thẹo. TN này có hai cặp  (đầu, đuôi) và ( thừa, thẹo). Đầu đuôi  trỏ tổng thể, còn ( thừa, thẹo) trỏ những thứ không ra gì. Vậy đó là “Những mảnh ruộng, mảnh vải… nhìn chung (về tổng thể)  không ra gì”&lt;br /&gt;(Bọn) đầu trộm đuôi cướp. TN này có hai cặp  (đầu, đuôi) và  (trộm, cướp). Cặp (trộm, cướp) trỏ hạng  lưu manh.  Vậy “nhìn chung, đó là bọn lưu manh.”&lt;br /&gt;(Họ buôn ghê lắm,) thượng vàng hạ cám. TN này có hai cặp  đều trỏ hai cực: (thượng, hạ) và (vàng, cám). Trong các thứ đồ vật, của cải, vàng là thứ quí nhất  xếp ở cực cao nhất, còn cám là thứ không ra gì (có câu có mà ăn cám! ) nên xếp ở cực cuối. Do vậy  (vàng, cám) trỏ tổng thể các thứ đồ vật, của cải. Vậy là họ buôn đủ mọi thứ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5. Trong nhiều ngôn ngữ khác, rất ít cách nói lấy hai cực trỏ tổng thể. &lt;br /&gt;Cách nói từ đầu đến cuối cũng gặp trong tiếng Nga (s nachala do kontsa), tiếng Pháp (depuis le premier jusqu’au dernier)  và phổ biến nhất là TN lấy  chữ đầu và chữ cuối của bộ chữ cái La tinh hoặc  Hy Lạp:  (A)  from A to Z;  (P)  depuis A jusqu’à Z;  (N) ot al’fy do omeghi. Người  Việt dễ dàng tiếp nhận  TN “Từ A đến Z” để làm mới lạ thêm  cách diễn đạt từ đầu đến cuối của mình.&lt;br /&gt;Ki tô giáo lấy chữ đầu (A) và cuối (V) trong bộ chữ cái Hy Lạp và vẽ hai chữ này lồng lên nhau để tạo ra  biểu trưng “tổng thể” về thế giới, về nhận thức, về thời gian, về không gian. Ta là Alpha và Oméga  -  đó là  Chúa Ki Tô. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong bài viết ngắn này tôi cố gắng nói có đầu có đuôi để minh oanh cho một thành ngữ mà không ít người cho đến nay vẫn tưởng là vô lí, thiếu lô gích.&lt;br /&gt;Tp HCM, 21.3.2010&lt;br /&gt;Nguyễn Đức Dân  &lt;br /&gt;dữ liệu: của ông Lê Công Lý&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS Trương Chính là người rất cẩn thận với chữ nghĩa. Khi dịch truyện ngắn Con Phốc con của nhà văn Ba Kim (Trung Quốc), GS có dùng câu “Ông không thừa nhận, nên bị đánh đập, thượng cẳng chân, hạ cẳng tay, rồi roi vọt, gậy gộc…” → "Thượng cẳng chân, hạ cẳng tay" đồng đẳng với “đánh đập” (động từ).&lt;br /&gt;Trong truyện ngắn Cái bướm tung tăng của Đoàn Ngọc Khánh: “Không thỏa dục thỏa ý là uất tức gây sự, là thượng cẳng chân, hạ cẳng tay liền” (ngữ động từ).&lt;br /&gt;Trong truyện ngắn Trẻ con không được ăn thịt chó của Nam Cao: “Nó cục như chó vậy. Ương với nó, nó thượng cẳng chân, hạ cẳng tay là thường” (ngữ động từ).&lt;br /&gt;Trong cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, GS Nguyễn Lân cũng xác định nghĩa của "thượng cẳng chân, hạ cẳng tay" là “đánh đập không thương xót” (ngữ động từ)..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;ý kiến của   anna_dinh_87@yahoo.com&lt;br /&gt;-"Cao chạy xa bay": Cao có thể chạy nhanh hơn sao? Tại sao lại không dùng là "Cao bay xa chạy"?. Trên cao thì bay lên còn ở đằng xa thì phải chạy.&lt;br /&gt;-"Không ít thì nhiều": đúng ra phải được nói là "không nhiều thì ít" nghĩa là không có tối đa thì cũng được tối thiểu, nghe hợp lý hơn.&lt;br /&gt;-"Bặt vô âm tín": từ "Bặt" và từ "Vô" ở đây đều có nghĩa là "Không". Khi cả hai từ phủ định đi liền nhau thì ai cũng hiểu là nghĩa của câu đó đã trở thành xác định. Tại sao lại không dùng là "Bặt âm vô tín"? (không có âm thanh cũng không có tín hiệu)&lt;br /&gt;Hoặc như câu:&lt;br /&gt;-"Không để người dân thiếu đói...": Từ "thiếu đói" nghĩa là "không đói" (như từ thiếu tiền, thiếu thuốc, thiếu ngủ...). Như vậy câu "không để người dân thiếu đói" lại có nghĩa là để người dân bị đói à? Tại sao không dùng câu "Không để người dân bị thiếu đói"?&lt;br /&gt;Hoặc một số Bình luận viên bóng đá vẫn nói trên đài báo:&lt;br /&gt;-"Thủ môn đã chụp được quả bóng và cứu thua cho đội nhà...": Nghĩa của câu này nếu so với câu "Bác sỹ đã cứu sống bệnh nhân" nghĩa là bệnh nhân thì "được sống" còn đội nhà thì "được thua" sao?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;(bài đăng trên tạp chí &lt;/span&gt;&lt;strong style="font-style: italic;"&gt;Ngôn Ngữ,&lt;/strong&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;  số 6 năm 201)&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-3179806180306319387?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/3179806180306319387/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/04/triet-li-tieng-viet-trong-mot-thanh-ngu.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/3179806180306319387'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/3179806180306319387'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/04/triet-li-tieng-viet-trong-mot-thanh-ngu.html' title='Triết lí tiếng Việt  trong  một thành ngữ “phi lô gích”'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S8aVfrikOpI/AAAAAAAAAF0/23yJBZEatss/s72-c/IMG_0100.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-5483073054146195300</id><published>2010-01-25T17:43:00.000-08:00</published><updated>2010-01-25T17:46:19.347-08:00</updated><title type='text'>cái bụng  chứa… tinh thần</title><content type='html'>&lt;meta equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"&gt;&lt;meta name="ProgId" content="Word.Document"&gt;&lt;meta name="Generator" content="Microsoft Word 11"&gt;&lt;meta name="Originator" content="Microsoft Word 11"&gt;&lt;link rel="File-List" href="file:///C:%5CDOCUME%7E1%5Choa%5CLOCALS%7E1%5CTemp%5Cmsohtml1%5C01%5Cclip_filelist.xml"&gt;&lt;o:smarttagtype namespaceuri="urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" name="place" downloadurl="http://www.5iantlavalamp.com/"&gt;&lt;/o:smarttagtype&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:punctuationkerning/&gt;   &lt;w:validateagainstschemas/&gt;   &lt;w:saveifxmlinvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;   &lt;w:ignoremixedcontent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;   &lt;w:alwaysshowplaceholdertext&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;   &lt;w:compatibility&gt;    &lt;w:breakwrappedtables/&gt;    &lt;w:snaptogridincell/&gt;    &lt;w:wraptextwithpunct/&gt;    &lt;w:useasianbreakrules/&gt;    &lt;w:dontgrowautofit/&gt;   &lt;/w:Compatibility&gt;   &lt;w:browserlevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;  &lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:latentstyles deflockedstate="false" latentstylecount="156"&gt;  &lt;/w:LatentStyles&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if !mso]&gt;&lt;object classid="clsid:38481807-CA0E-42D2-BF39-B33AF135CC4D" id="ieooui"&gt;&lt;/object&gt; &lt;style&gt; st1\:*{behavior:url(#ieooui) } &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;&lt;style&gt; &lt;!--  /* Font Definitions */  @font-face 	{font-family:VNI-Times; 	mso-font-alt:"Times New Roman"; 	mso-font-charset:0; 	mso-generic-font-family:auto; 	mso-font-pitch:variable; 	mso-font-signature:7 0 0 0 19 0;}  /* Style Definitions */  p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal 	{mso-style-parent:""; 	margin:0in; 	margin-bottom:.0001pt; 	mso-pagination:widow-orphan; 	font-size:13.0pt; 	font-family:VNI-Times; 	mso-fareast-font-family:"Times New Roman"; 	mso-bidi-font-family:"Times New Roman";} p.MsoHeader, li.MsoHeader, div.MsoHeader 	{margin:0in; 	margin-bottom:.0001pt; 	mso-pagination:widow-orphan; 	tab-stops:center 3.0in right 6.0in; 	font-size:13.0pt; 	font-family:VNI-Times; 	mso-fareast-font-family:"Times New Roman"; 	mso-bidi-font-family:"Times New Roman";} @page Section1 	{size:8.5in 11.0in; 	margin:1.0in 1.25in 1.0in 1.25in; 	mso-header-margin:.5in; 	mso-footer-margin:.5in; 	mso-paper-source:0;} div.Section1 	{page:Section1;} --&gt; &lt;/style&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt; &lt;style&gt;  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable 	{mso-style-name:"Table Normal"; 	mso-tstyle-rowband-size:0; 	mso-tstyle-colband-size:0; 	mso-style-noshow:yes; 	mso-style-parent:""; 	mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; 	mso-para-margin:0in; 	mso-para-margin-bottom:.0001pt; 	mso-pagination:widow-orphan; 	font-size:10.0pt; 	font-family:"Times New Roman"; 	mso-ansi-language:#0400; 	mso-fareast-language:#0400; 	mso-bidi-language:#0400;} &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="line-height: 150%;"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:18;"  &gt;Tiếng nước tôi: &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: center; line-height: 150%;" align="center"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:18;"  &gt;cái bụng&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;chứa… tinh thần&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: center; line-height: 150%;" align="center"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:18;"  &gt;&lt;o:p&gt; &lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: right; line-height: 150%;" align="right"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;GS TS&lt;/span&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:14;"  &gt; &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Nguyễn Đức Dân &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;1. &lt;b style=""&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;Đọc đề báo&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;này chắc có bạn &lt;i style=""&gt;nghĩ bụng&lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;lại chuyện gì nữa đây? Nếu trong&lt;i style=""&gt; bụng &lt;/i&gt;còn nửa tin nửa ngờ xin bạn cũng đừng &lt;i style=""&gt;nóng lòng,&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;sốt ruột, &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;hãy &lt;i style=""&gt;bền lòng &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;đọc tiếp và trước hết trả lời câu hỏi sau: Xin bạn &lt;i style=""&gt;vui lòng &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;cho &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;biết có thể &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;tìm được những từ tiếng Anh, Pháp, Nga… chỉ bộ phận cơ thể con người ứng với “bụng”, “lòng”, “ruột”… của tiếng Việt&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;để dịch những từ ngữ viết nghiêng trên đây được không?&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Tôi nghĩ là không. Nếu bạn tìm được&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;những trường hợp như vậy, xin đừng giữ&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;trong &lt;i style=""&gt;bụng. &lt;/i&gt;Hãy nói ra, tôi&lt;span style=""&gt;   &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;sẵn lòng &lt;/i&gt;và &lt;i style=""&gt;hài lòng &lt;/i&gt;lắng nghe,&lt;span style=""&gt;   &lt;/span&gt;vì&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;tin rằng bạn không có &lt;i style=""&gt;bụng dạ &lt;/i&gt;gì. Nếu bạn đúng, dù hơi &lt;i style=""&gt;phiền lòng&lt;/i&gt; nhưng vì tôn trọng chân lí nên tôi&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;buộc lòng&lt;/i&gt; chấp nhận và &lt;i style=""&gt;ghi lòng tạc dạ&lt;/i&gt; những điều tôi chưa hiểu thấu đáo. Với những điều chưa thỏa đáng, tôi xin được nói lại, mong bạn đừng &lt;i style=""&gt;mếch lòng&lt;/i&gt; và cũng đừng &lt;i style=""&gt;để bụng &lt;/i&gt;làm gì. &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Vậy thì tôi cứ viết miễn sao các bạn &lt;i style=""&gt;ưng cái bụng &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;là tốt lắm rồi.&lt;i style=""&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="margin-top: 6pt; text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;2.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Phần lớn cách dùng từ &lt;i style=""&gt;lòng&lt;/i&gt; trong tiếng Việt theo nghĩa bóng&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;lại chuyển thành từ &lt;i style=""&gt;tim &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;trong tiếng Anh, Pháp hoặc Nga… Vì sao vậy? &lt;i style=""&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;span style=""&gt;           &lt;/span&gt;Lí thuyết &lt;i style=""&gt;ẩn dụ &lt;/i&gt;trong ngôn ngữ học hiện đại cho rằng, con người là một vật chứa và thể hiện sự trải nghiệm thế giới&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;vào &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;ngôn ngữ. Tiếng Việt là một trường hợp điển hình. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Với người Việt, &lt;i style=""&gt;cái bụng là vật chứa tiêu biểu, &lt;/i&gt;nó chứa đựng và thể hiện những gì thuộc phạm trù tinh thần. Một chứng cứ là trong kho giai thoại Việt từng có người cởi trần &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;nằm ngoài nắng để “phơi sách” – phơi chữ trong bụng. Những người lắm chữ nghĩa được coi là &lt;i style=""&gt;đầy một&lt;/i&gt; &lt;i style=""&gt;bụng sách. &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Mới rồi Nguyễn Quang Sáng viết “Đúng là quên nhiều… Nhưng viết lại khác, cái gì mình muốn viết nó nằm trong &lt;i style=""&gt;bụng &lt;/i&gt;rồi, chỉ cần khui ra thôi” (TT, 13.01.2010). Trong tiếng Việt, &lt;i style=""&gt;bụng và những &lt;/i&gt;bộ phận&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;của cái bụng &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;lòng, dạ, gan, ruột,…&lt;/i&gt;trở thành &lt;b style=""&gt;biểu tượng &lt;/b&gt;cho phạm trù tinh thần. Chúng là một công cụ &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;biểu hiện tư duy, tâm lí, tình cảm, ý chí, sức chịu đựng. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Trong tiếng nói nhiều dân tộc khác, người ta dùng từ “tim” để biểu hiện điều này. Người Việt nói “học&lt;i style=""&gt; thuộc lòng &lt;/i&gt;bài thơ” thì người Anh lại nói&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;“học thuộc bài thơ &lt;i style=""&gt;bằng trái tim&lt;/i&gt;”&lt;i style=""&gt;.&lt;/i&gt; Không nhiều ẩn dụ &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;được người Anh thể hiện qua các từ &lt;i style=""&gt;ngực, lồng ngực, tụy, đại tràng, ruột &lt;/i&gt;(He busted &lt;i style=""&gt;a gut&lt;/i&gt; laughing, nó cười đau cả &lt;i style=""&gt;ruột&lt;/i&gt;).&lt;i style=""&gt; &lt;/i&gt;Trong&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;tiếng Việt cũng xuất hiện không ít&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;từ &lt;i style=""&gt;tâm , tim&lt;/i&gt; với ý nghĩa biểu trưng (khẩu phật, tâm xà, một túp lều tranh hai trái tim vàng, hiến dâng con tim và khối óc cho Tổ Quốc…). &lt;i style=""&gt;Tâm &lt;/i&gt;là một từ Hán Việt. Theo Nguyễn Đức Tồn &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;cách dùng từ &lt;i style=""&gt;tim &lt;/i&gt;theo nghĩa bóng &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;có lẽ được du nhập từ các nền văn hóa khác trong mấy thế kỉ gần đây. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="margin-top: 6pt; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;3.&lt;span style=""&gt;         &lt;/span&gt;Cùng &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;biểu thị phạm trù tinh thần, nhưng mỗi bộ phận &lt;i style=""&gt;lòng, dạ, ruột , gan… &lt;/i&gt;lại nhấn mạnh&lt;span style=""&gt;   &lt;/span&gt;một mặt nào đấy.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Nhìn một người &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;theo bề ngoài, &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;thấy &lt;i style=""&gt;mặt &lt;/i&gt;nhưng không thể &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;thấy &lt;i style=""&gt;lòng, dạ, ruột,&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;gan…&lt;/i&gt; nên những từ này có một điểm chung là &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;biểu thị &lt;i style=""&gt;những trạng thái tinh thần &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;thầm kín. &lt;/i&gt;Cũng vì vậy, có hàng loạt các từ ghép các yếu tố này: &lt;i style=""&gt;gan dạ, lòng dạ, bụng dạ, ruột gan…&lt;/i&gt;Các thày giáo thì &lt;i style=""&gt;bụng dạ&lt;/i&gt; cũng đại khái như thế (Tô Hoài);&lt;i style=""&gt; &lt;/i&gt;“Lại một lần nữa, &lt;i style=""&gt;ruột gan&lt;/i&gt; cô Thúy không kìm được sự hồi hộp”(Ngô Tất Tố). &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 0.5in; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;Từ&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;dạ &lt;/i&gt;có khả năng diễn đạt những mức độ của trạng thái tinh thần:&lt;i style=""&gt; chột dạ,&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;nhẹ dạ, vững dạ, …&lt;/i&gt; “mạ thằng Tư Hiền ngẫm thấy mình quá &lt;i style=""&gt;nhẹ dạ cả tin&lt;/i&gt;” (Xuân Thiều); “Năm mười ba tuổi, tôi xin ra khỏi nhà trường. Tôi thấy rằng dù còn &lt;i style=""&gt;trẻ người non dạ&lt;/i&gt; thì tôi cũng đã đủ tư cách kiếm lấy mà ăn” (Vũ Trọng Phụng)&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Từ &lt;i style=""&gt;lòng&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;được dùng rộng rãi nhất, biểu hiện được tất cả những cung bậc tình cảm con người. &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Thể hiện tình cảm mong muốn, khát khao của&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;thời thanh niên sôi nổi&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;chúng ta hát: “&lt;i style=""&gt;Lòng ta &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;hằng mong muốn và ước mơ/Bàn tay son sắt dâng cao ngọn cờ”&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Khi vui sướng, người ta &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;mở cờ trong&lt;/i&gt; &lt;i style=""&gt;bụng&lt;/i&gt;. Được khen, dù biết đó chỉ là những lời nói&lt;i style=""&gt; lấy lòng &lt;/i&gt;ta thường &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;vẫn &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;hởi lòng hởi dạ&lt;/i&gt;,&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;mát lòng mát dạ&lt;/i&gt;,&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;nở từng khúc ruột&lt;/i&gt;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Lúc yêu thương, say mê&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;bạn khác giới là ta đã &lt;i style=""&gt;phải lòng &lt;/i&gt;họ rồi. “Không gian quanh Mây tạo nên sự quyến rũ đến &lt;i style=""&gt;cháy lòng&lt;/i&gt; một cuộc sống yên tĩnh và ấm áp...” (Trầm Hương)&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Khi buồn thương&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;chỉ nghe tiếng cuốc kêu là &lt;i style=""&gt;lòng buồn tái tê, lòng đau như cắt. &lt;/i&gt;Trước cảnh bất hạnh, “Vân thấy &lt;i style=""&gt;mủi lòng&lt;/i&gt;, nước mắt bỗng nhiên ứa lên cổ khiến chàng nghẹn ngào thương xót.” (Thạch Lam) “Dưới ánh đèn vàng vọt mờ từ cánh cửa của chung cư, khuôn mặt gầy khắc khổ của Định như dài thêm ra. Tôi bỗng &lt;i style=""&gt;chạnh lòng&lt;/i&gt;” (Trầm Hương). Lúc lo lắng, bồn chồn đợi chờ thì &lt;i style=""&gt;lòng như lửa đốt.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;Tin dữ làm ta sợ&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;mất mật.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;Lúc khó chịu,&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;không bằng lòng&lt;/i&gt; thì cãi lại. Tức giận nhau vẫn có thể &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;bằng mặt &lt;/i&gt;đấy nhưng &lt;i style=""&gt;chẳng bằng lòng.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;Chuyện mẹ chồng nàng dâu, dì ghẻ con chồng thường&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;do &lt;i style=""&gt;khác máu tanh lòng. &lt;/i&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;Bụng, dạ &lt;/i&gt;nhấn mạnh&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;tới những điều thầm kín trong tâm tư: &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;ghi lòng tạc dạ&lt;/i&gt;, thậm chí &lt;i style=""&gt;sống để dạ, chết mang đi.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Bụng &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;còn để tư duy. &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;Khi&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;suy xét, đánh giá một điều gì đó nhưng không nói ra&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;là bạn &lt;i style=""&gt;nghĩ bụng. &lt;/i&gt;Có ý định làm một việc gì đó là ta đã &lt;i style=""&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;định bụng. &lt;/i&gt;Tự nhủ mình&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;là &lt;i style=""&gt;bụng bảo dạ&lt;/i&gt;, &lt;i style=""&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;tự làm mình hoảng sợ là &lt;i style=""&gt;bụng nát dạ. &lt;/i&gt;Trong &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;tế lễ ma chay nhiều người tin rằng&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;cõi dương sao thì cõi âm vậy ấy là đã &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;suy bụng ta ra bụng…thần&lt;/i&gt;. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;Dạ &lt;/i&gt;còn chỉ khả năng ghi nhận. Học hành mau hiểu, mau nhớ là &lt;i style=""&gt;sáng dạ. &lt;/i&gt;Người &lt;i style=""&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;tối dạ &lt;/i&gt;thì ngược lại.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;Từ &lt;i style=""&gt;ruột, ruột gan &lt;/i&gt;nhấn mạnh&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;tới sự chịu đựng về tình cảm. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="margin-left: 0.5in; line-height: 150%;"&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="line-height: 150%; font-style: normal;font-size:12;" &gt;“&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-size:12;" &gt;Cao thấp nát gan con sóng lượn,&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Ngạt ngào đứt ruột tiếng chim kêu&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="line-height: 150%; font-style: normal;font-size:12;" &gt;”&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;(Hồ Biểu Chánh) &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-indent: 0.5in; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;Khi &lt;i style=""&gt;lo lắng, ruột gan rối như tơ vò. &lt;/i&gt;Con hư thì bố mẹ &lt;i style=""&gt;đứt từng khúc ruột. &lt;/i&gt;Bị&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;chọc&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;quê đau, ta có thể &lt;i style=""&gt;ứa gan lộn ruột, buốt ruột buốt gan. &lt;/i&gt;Nhiều khi tức đến “&lt;i style=""&gt;tím gan, tím ruột &lt;/i&gt;với trời xanh” (Nguyễn Khuyến). &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;“Thảm cho em vì muốn báo thù cho mẹ mà phải hư thân, thiệt qua nghĩ đến việc ấy chừng nào, qua càng &lt;i style=""&gt;nát gan đứt ruột&lt;/i&gt; chừng nấy.”(Hồ Biểu Chánh&lt;i style=""&gt;)&lt;/i&gt;; “Khê Trung hầu thấy Lương ngự sử quá nóng, (nên) nói dịu tuy hầu cũng đang&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;thâm gan tím ruột&lt;/i&gt;” (Nguyễn Huy Tưởng) &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;Gan&lt;/i&gt; nhấn mạnh&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;tới ý chí mạnh mẽ, &lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;bền bỉ, không lùi bước trước khó khăn,&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;hiểm nguy. Đó là &lt;i style=""&gt;gan con cóc&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;tía &lt;/i&gt;dẫn đàn súc vật lên kiện trời đòi mưa. Người &lt;i style=""&gt;non gan &lt;/i&gt;thường&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;không làm được việc lớn. Họ “&lt;i style=""&gt;không có gan&lt;/i&gt; chạy trốn đến tận cùng bằng tự sát (Chu Lai&lt;i style=""&gt;). &lt;/i&gt;Có chí làm quan, &lt;i style=""&gt;có gan&lt;/i&gt; làm giầu. Những người &lt;i style=""&gt;cả gan&lt;/i&gt; là những người liều lĩnh, dám làm những việc động trời khác người: “Thuở nay người giàu sang thường kiếm con nhà giàu sang mà cưới, chớ có ai &lt;i style=""&gt;cả gan&lt;/i&gt; dám tính cưới con nhà nghèo hèn bao giờ (Hồ Biểu Chánh&lt;i style=""&gt;)&lt;/i&gt;. Giới nữ thường&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;mềm yếu, hiếm thấy những ai như trong &lt;i style=""&gt;Bão biển &lt;/i&gt;&lt;span style=""&gt; &lt;/span&gt;của &lt;st1:place st="on"&gt;Chu&lt;/st1:place&gt; văn: “Nó đánh cán bộ mình mà một con đàn bà trời giáng&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;mặt sứa gan lim&lt;/i&gt;, hỏi cung hai lần, nó nhất định không khai”&lt;i style=""&gt;. &lt;/i&gt;Trong &lt;i style=""&gt;Cát bụi chân ai, &lt;/i&gt;Tô Hoài nhiều lần dùng từ &lt;i style=""&gt;gan&lt;/i&gt; biểu trưng cho ý chí:&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;“Các cậu này &lt;i style=""&gt;to gan&lt;/i&gt;, liều quá”; “Vẻ thản nhiên &lt;i style=""&gt;trơ gan&lt;/i&gt; &lt;i style=""&gt;cùng tuế nguyệt&lt;/i&gt; của cảnh vật gợi một nỗi buồn thê lương”; “Cô nào &lt;i style=""&gt;kiên gan&lt;/i&gt; lắm cũng chỉ đi dạy, đứng bán mậu dịch bách hoá được ít lâu rồi bỏ về”;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;“Mấy tên lính Thái &lt;i style=""&gt;gan lỳ&lt;/i&gt; vẫn dai dẳng bắn xuống phát một.”…&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="margin-top: 6pt; line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;span style=""&gt;            &lt;/span&gt;&lt;i style=""&gt;Trong tâm thức người Việt, cái bụng và&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;lục phủ ngũ tạng chứa đựng tinh thần là như vậy. &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="MsoNormal" style="line-height: 150%;"&gt;&lt;span style="line-height: 150%;font-family:&amp;quot;;font-size:12;"  &gt;&lt;o:p&gt; &lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;  &lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-5483073054146195300?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/5483073054146195300/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/01/cai-bung-chua-tinh-than.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/5483073054146195300'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/5483073054146195300'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/01/cai-bung-chua-tinh-than.html' title='cái bụng  chứa… tinh thần'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-6811869227690219150</id><published>2010-01-10T06:17:00.000-08:00</published><updated>2010-02-28T23:59:27.111-08:00</updated><title type='text'>“Nước” – một từ đặc Việt</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S4txd4DsvzI/AAAAAAAAAFE/2qu0RWam5Jo/s1600-h/IMG_0100.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0pt 10px 10px 0pt; float: left; cursor: pointer; width: 200px; height: 150px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S4txd4DsvzI/AAAAAAAAAFE/2qu0RWam5Jo/s200/IMG_0100.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5443569332685422386" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt; “Nước” – một từ đặc Việt&lt;/span&gt;                                 &lt;br /&gt;                                                   GS TS  Nguyễn Đức Dân&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Tôi xin tham gia mục “Tiếng nước tôi” bắt đầu bằng từ nước.&lt;br /&gt;Lấy nơi sinh sống đặt tên cho lãnh địa dân tộc mình là lẽ thường tình. Nhiều  nước có tên gọi gắn với “đất” (land). Xcốtlen (Scotland) là “đất của những người nói tiếng Gaelic”; Phần Lan (Finland) là “đất của những người nói tiếng Finnic”; Hà Lan (Holland) là “vùng đất cây cối rậm rạp”, và cũng là “những vùng đất thấp” (Netherlands); Ba Lan (Poland) là “đất của dân tộc Poles”. Nhưng  người Việt sinh dùng từ nước  để chỉ lãnh thổ dân tộc: Nước Việt Nam. Điều này gắn với huyền sử Việt,  số con của bà Âu Cơ nửa lên núi,  nửa  xuống biển nên non nước, đất nước cũng là nước, là quốc gia.&lt;br /&gt;2.  Trong tiếng Việt, từ làng nước để chỉ những người cùng làng. Thú vị là từ làng cũng gắn với “những dải nước lớn”, vì người Việt cổ “quần cư quanh những dải nước lớn (cũng như đồng bào miền núi thường quần cư bên bờ suối, bờ sông) mà ngày xưa gọi là lang và sau này khi tiếng Việt đã có thanh điệu, cơ sở quần cư ấy được gọi là làng” (Nguyễn Kim Thản).  Khi xâm lược nước ta, người Hán gọi dải nước rộng lớn , chạy dài suốt từ Yên Lãng, Đông Anh lên Từ Sơn, v.v. là Lãng Bạc. Theo mặt chữ, lãng là sóng, bạc là hồ nước lớn chung quanh  có núi. Chữ lãng ở đây dùng để phiên âm  từ láng  mà người Việt Nam dùng để gọi dải nước này. Từ láng , theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), có nghĩa là đầm, đìa. Hiện vẫn còn nhiều địa danh  láng: làng Láng (ở Hà Nội , Dưa La cà Láng, ), Láng Le, Láng Thé, Láng Cò, Láng Thờ (dưới Đền Hùng),v.v.&lt;br /&gt;3. Nơi ở  của người Việt gắn chặt với nguồn nước nên tổ tiên ta đã dùng từ nước (water) đặt tên cho đơn vị hành chính lớn nhất của mình, nước là quốc gia (state). Theo qui luật lấy con người làm trung tâm và lấy những sự vật gần gũi nhất quanh ta để đặt tên  nhiều  hiện tượng khác, từ nước  được người Việt dùng theo nghĩa bóng rất nhiều, những  cách dùng từ ngữ  hiếm thấy ở những dân tộc khác.&lt;br /&gt;Bắt đầu một ngày, mặt trời nhô lên khỏi biển được người Việt gọi là “mặt trời mọc” giống như cây mọc từ đất, hoa sen, hoa súng mọc từ nước, trong khi các dân tộc Anh, Nga, Pháp  nói là “mặt trời đi lên” (to rise, podnimatsja, se lever). Chuyển từ ngày sang đêm, mặt trời buông xuống rồi biến mất, giống như  khi ta lặn xuống nước không ai thấy nữa. Vậy là người Việt nói “mặt trời lặn”.&lt;br /&gt;Trong tiếng Việt, từ nước có tính độc lập cao, nó kết hợp được với tính từ, động từ , danh từ  theo những trật tự  khác nhau.  Hãy so sánh với tiếng Anh: Tiếng Việt có 117 cụm từ trong đó có yếu tố nước, sông, trong số này có 97  cụm mà tiếng Anh lại  diễn đạt bằng những từ khác, chứ không phải là nước, sông (water, river), tuy  tiếng Anh cũng  có 19 cụm từ chứa water, river  nhưng ở cách nói tương ứng trong tiếng Việt lại không dùng hai từ sông, nước. (theo Nguyễn Thị Thanh Phượng). Chu Lai viết “Chị hàng nước  mang hàm giảng viên đại học… còn có nhã ý bán thêm mặt hàng mía đẫn để phục vụ riêng cho Lãm” (Phố)”. Hàng nước đâu chỉ có bán nước, còn bán cả kẹo bột, kẹo vừng, mấy gói thuốc lào, dăm bao thuốc lá. Người uống nước có thể mua thêm cút rượu nhắm xuông kẹo lạc, kẹo vừng ... Từ nước đã thay cho nhiều mặt hàng ăn uống lặt vặt.&lt;br /&gt;4. Các bạn thử xem có thể dùng những cụm từ chứa  water để dịch những từ nước in nghiêng dưới đây được không?&lt;br /&gt;Tức nước  vỡ bờ, nước biểu trưng cho sức mạnh, cho năng lực. Từ đây có những cách nói:  học hành như vậy chưa nước non gì đâu; nó thì nước gì,  đến nước ấy là cùng; làm thế cũng chả nước mẹ gì (xin lỗi!)… Thay vì nói  “ra tay, trổ tài” người ta cũng nói “ra nước”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nước thì có bề mặt phản chiếu, nên có thể dùng từ nước  để chỉ những gì trên bề mặt có màu sắc: nước da trắng hồng, nước bóng, nước mạ, nước kền, nước sơn, màu  chiếc xe đã xuống nước không còn như lúc mới.&lt;br /&gt;Những con nước lên xuống, rồi một sông  nước chảy đôi dòng, dẫn tới những tình huống mà con người phải xử trí hàng ngày, hoặc nói năng ngang bằng sổ thẳng hoặc theo nước đôi muốn hiểu thế nào thì hiểu. Tình huống trong cuộc đời giống như tình thế trong cuộc cờ. Vậy nên nước còn dùng để nói về  nước cờ, thế cờ, “Cờ đang dở cuộc không còn nước” (Nguyễn Khuyến). Nhiều lúc, dù có xoay xở hết nước thì vẫn không thoát khỏi nước bí trong cuộc cờ cũng như trong cuộc đời nếu như không có những lời mách nước.  Kẻ được nước, ở vị thế cao thì  lấn nước,  người kia mất nước, ở vị thế thấp đành chịu nước lép hoặc tính tới nước nói dối.  Thậm chí nếu hết đường binh thì chỉ còn nước  đầu hàng. Nước đời là vậy.&lt;br /&gt;Dòng nước chảy gợi nên sự chuyển động, khiến ta liên tưởng tới cách thức đi đứng, hành xử tìm ra đường đi nước bước trong công việc. Ngựa chạy được ví như nước chảy, có lúc đi nước kiệu, lúc lại phi nước đại. Về gần đích, vận động viên chạy nước rút. Cuối năm, nhà máy, xí nghiệp cũng  mở cuộc đua nước rút hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mời các bạn suy ngẫm và dịch tiếp những  từ “nước” dưới đây: nước chấm, nước dùng, nước lèo, nước cốt, nước hàng, nước màu, nước hoa, nước trái cây, sắc tới nước thuốc thứ hai, thêm thứ này vô sẽ mất nước, nước độc, bị sốt rét  ngã nước, buôn bán nước bọt,…&lt;br /&gt;Ấy là chúng ta chưa nói về nghĩa bóng của từ nước trong thành ngữ, tục ngữ Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                      Bài này đã đăng trên TT ngày 28.12.2009&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-6811869227690219150?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/6811869227690219150/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/01/nuoc-mot-tu-ac-viet.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6811869227690219150'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/6811869227690219150'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/01/nuoc-mot-tu-ac-viet.html' title='“Nước” – một từ đặc Việt'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S4txd4DsvzI/AAAAAAAAAFE/2qu0RWam5Jo/s72-c/IMG_0100.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-4714994473302234312</id><published>2010-01-06T05:21:00.000-08:00</published><updated>2010-01-06T07:16:43.605-08:00</updated><title type='text'>sua loi khong hien tieng viet trong IE6</title><content type='html'>&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S0So3dWCWDI/AAAAAAAAADQ/mC10JELz_tg/s1600-h/b3.JPG"&gt;&lt;img style="float:left; margin:0 10px 10px 0;cursor:pointer; cursor:hand;width: 196px; height: 200px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S0So3dWCWDI/AAAAAAAAADQ/mC10JELz_tg/s200/b3.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5423645521984247858" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S0So0Oi4ryI/AAAAAAAAADI/m5YxBhx5u5Q/s1600-h/b2.JPG"&gt;&lt;img style="float:left; margin:0 10px 10px 0;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 197px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S0So0Oi4ryI/AAAAAAAAADI/m5YxBhx5u5Q/s200/b2.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5423645466472001314" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S0SooEA_Y0I/AAAAAAAAADA/lVwSe7ZTZLM/s1600-h/b1.JPG"&gt;&lt;img style="float:left; margin:0 10px 10px 0;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 146px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S0SooEA_Y0I/AAAAAAAAADA/lVwSe7ZTZLM/s200/b1.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5423645257487049538" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Bai nay copy tu &lt;br /&gt;&lt;a href="http://my.opera.com/min90/blog/de-ie6-khong-bi-loi-hien-thi-tieng-viet-voi-blog-opera"&gt;sua loi khong hien tieng viet trong IE6&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để IE6 không bị lỗi hiển thị Tiếng Việt với blog Opera!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Monday, 18. May 2009, 09:15:04&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;IT&lt;br /&gt;Mặc dù là trình duyệt cũ kĩ nhưng IE6 vẫn được nhiều người sử dụng vì tính gọn nhẹ và một lý do nữa là... không biết nâng cấp lên IE7 hoặc các trình duyệt khác nên đành an phận với IE6.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên IE6 lại không hiển thị được những font chữ không phải là Unicode. Có thể xem hình dưới:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để khắc phục các bạn làm theo hướng dẫn sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tool&gt;Internet Options...&gt; Kích vào Fonts...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bạn chọn font nào cũng được, miễn là Unicode, ở đây mình chọn Tahoma(theo mình dễ nhìn nhất)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kích tiếp vào Accessibility... Chọn Ignore font styles specified on Web pages.. Nhấn OK&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xong rồi đấy! Các bạn xem kết quả ở hình dưới,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lưu ý: như đã nói ở trên, cách này dùng để khắc phục lỗi hiển thị font của IE6, bạn nào muốn xem được những font "bay bổng" thì cài thêm Firefox hoặc Opera để tận hưởng nhé!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(P.S: có thể nhiều bạn đã biết, nhưng cũng ko ít bạn chưa biết! Nhỉ!?!)&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-4714994473302234312?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/4714994473302234312/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/01/sua-loi-khong-hien-tieng-viet-trong-ie6.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/4714994473302234312'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/4714994473302234312'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/01/sua-loi-khong-hien-tieng-viet-trong-ie6.html' title='sua loi khong hien tieng viet trong IE6'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_oognbl_n2Nk/S0So3dWCWDI/AAAAAAAAADQ/mC10JELz_tg/s72-c/b3.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-7747722679074816162.post-8831542869330757159</id><published>2010-01-06T03:51:00.000-08:00</published><updated>2010-01-06T04:49:16.557-08:00</updated><title type='text'>Tri nhận  thời gian trong tiếng Việt</title><content type='html'>&lt;p align="center"&gt;&lt;strong&gt;Tri nhận thời gian trong tiếng Việt &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;GS TS&lt;strong&gt; Nguyễn Đức Dân &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mở đầu &lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;Hầu như tất cả các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt từ xưa đến nay đều có đề cập phạm trù thời gian với hai quan niệm đối lập nhau: trong tiếng Việt có hoặc không có phạm trù &lt;em&gt;thì&lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những người quan niệm tiếng Việt có phạm trù &lt;em&gt;thì&lt;/em&gt;: Bùi Đức Tịnh (1952), Nguyễn Bạt Tụy (1953), Phan Khôi (1955), Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê (1963), Lê Văn Lý (1972), Lê Cận, Phan Thiều (1983) , Nguyễn Anh Quế (1988), Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung (1992), Nguyễn Văn Thành (1992), Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp (1998), Panfilov (2002)…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những người quan niệm tiếng Việt không có phạm trù &lt;em&gt;thì&lt;/em&gt;: Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm (1940), M.B. Emeneau (1951), M. Grammont (1961), Hoàng Tuệ (1962), Nguyễn Kim Thản (1977), Đái Xuân Ninh (1986), Nguyễn Đức Dân (1996), Phan Thị Minh Thúy (2003).Đặc biệt, Cao Xuân Hạo (1998) đã nghiên cứu rất sâu và chứng minh rằng trong tiếng Việt không có phạm trù &lt;em&gt;thì, &lt;/em&gt;chỉ có phạm trù &lt;em&gt;thể.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có những công trình chuyên nghiên cứu về &lt;em&gt;thể, &lt;/em&gt;như Huỳnh Văn Thông tìm hiểu ý nghĩa thể qua vị từ tình thái trong tiếng Việt (1998), Nguyễn Hoàng Trung nghiên cứu về phạm trù thể trong tiếng Việt so sánh với tiếng Pháp và tiếng Nga (2005).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong bài báo này chúng tôi chỉ đề cập đến sự tri nhận về thời gian của người Việt.&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Những giả thuyết về sự tri nhận thời gian &lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;2.1 Con người và sự vật luôn luôn biến đổi. Con người biến đổi trong không gian và thời gian. Chúng ta có hai ẩn dụ:&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;THờI GIAN LÀ MộT ĐốI TƯợNG CHUYỂN ĐỘNG (G. Lakoff &amp;amp; M. Jhonson): Chúng ta nói: “xuân sang”; “từ nay trở &lt;em&gt;đi&lt;/em&gt;”… Thời gian chuyển động từ &lt;em&gt;quá khứ &lt;/em&gt;đến &lt;em&gt;tương lai. &lt;/em&gt;Thời gian đến trước thành quá khứ, thời gian sẽ đến sau là tương lai. &lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;CON NGƯờI CHUYỂN ĐỘNG TRONG THờI GIAN: Chúng ta nói: “sang xuân” &lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;Con người chuyển động trong không gian cũng tức là chuyển động trong thời gian. Thời gian trong những không gian đã đi qua là thời gian đến trước và trở thành thời gian quá khứ. Thời gian trong những không gian sẽ đi tới là thời gian đến sau và trở thành thời gian tương lai. Vậy khi con người chuyển động, thời gian cũng từ quá khứ tới tương lai. &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;Không gian là một tập hợp. Thời gian cũng là một tập hợp. Từ ngữ trỏ không gian hình thành trước. Những từ ngữ trỏ thời gian hình thành sau. Tập hợp không gian &lt;em&gt;ánh xạ vào&lt;/em&gt; tập hợp thời gian. Cấu trúc từ ngữ không gian ánh xạ vào cấu trúc từ ngữ thời gian. Nghĩa là: &lt;em&gt;Có sự chuyển nghĩa các từ ngữ không gian thành các từ ngữ thời gian.&lt;/em&gt; Những từ ngữ trỏ &lt;em&gt;không điểm - &lt;/em&gt;vị trí không gian - trở thành những từ ngữ trỏ &lt;em&gt;thời điểm&lt;/em&gt; - vị trí thời gian. Do vậy, nhiều mô hình, qui tắc cấu tạo từ ngữ không gian trở thành những mô hình qui tắc cấu tạo từ ngữ thời gian. Những cấu trúc ngữ pháp dùng cho không gian cũng được dùng cho thời gian. Trong tri nhận của chúng ta, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian không đồng nhất. Cấu trúc thời gian mở rộng hơn, có nhiều sự phân biệt hơn, nên lớp từ ngữ thời gian phong phú hơn. Điều này dẫn tới việc người Việt đã tận dụng lớp từ ngữ không gian và một só lớp từ ngữ khác để tạo ra những từ ngữ mới trỏ thời gian.&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;Tiếng Việt không có phạm trù &lt;em&gt;thì&lt;/em&gt;. Vắng hình thức ngữ pháp thể hiện phạm trù này sẽ có những hình thức ngữ pháp khác và những phương tiện từ vựng để thay thế.&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;Trong tri nhận về thời gian, người Việt có phân biệt sự tình ở những thời gian hiện tại, quá khứ và tương lai. Người Việt cũng phân biệt thời gian gần và thời gian xa. Nghĩa là, trong tiếng Việt có những cách nói phản ánh ý nghĩa quá&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;khứ gần, quá khứ xa, tương lai gần và tương lai xa. &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;Người Việt có các đơn vị thời gian, có phân biệt thời gian xác định và thời gian không xác định. Người Việt cũng nhận thức được những hiện tượng có &lt;em&gt;chu kì&lt;/em&gt;, tính &lt;em&gt;liên tiếp, &lt;/em&gt;tính &lt;em&gt;tức thì&lt;/em&gt; của sự tình.&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;Có mối quan hệ giữa thời điểm nói, sự tình và thời điểm xảy ra sự tình. Để diễn đạt những mối quan hệ này trong quá khứ, hiện tại và tương lai, người Việt ý thức được về “điểm nhìn” hay là “không gian thời điểm nhìn”. &lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;3. &lt;strong&gt;Từ ngữ không gian chuyển thành từ ngữ thời gian &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.1 &lt;em&gt;Ba từ không gian tiêu biểu về vị trí- khoảng cách so với người nói&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;ĐÂY – một từ trực chỉ, trỏ vị trí không gian – không điểm – ngay nơi người nói và người nghe. “Tôi &lt;em&gt;đây&lt;/em&gt;”; “Đây là vườn nhà tôi”; “Đây là tờ năm trăm nghìn giả”…Nếu không gian này không còn được nhìn thấy, người nói tạo ra một &lt;em&gt;không gian tâm thức &lt;/em&gt;để người nghe “nhìn thấy”. Ví dụ: Viên sĩ quan chỉ vào sa bàn, chỉ vào tấm bản đồ và nói: “Quân ta sẽ phục kích tại &lt;em&gt;đây&lt;/em&gt;”. Người dự báo thời tiết trong chương trình truyền hình chỉ vào một điểm trên bản đồ và nói “Nhiệt độ ở &lt;em&gt;đây&lt;/em&gt; có thể xuống tới 5o C”. Người kể chuyện đưa tay chỉ vào chỗ “đây” trên cơ thể một ai đó và nói “Anh ấy bị bắn vào đây”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;KIA – trỏ không điểm có vị trí xa nơi người nói, nhưng có nhìn thấy và do vậy, đó là vị trí xác định.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;ĐẤY - trỏ không điểm có vị trí xa nơi người nói, nhưng có thể không còn nhìn thấy, và do vậy &lt;em&gt;có thể &lt;/em&gt;là vị trí không xác định. Biến thể của ĐẤYlàĐÓ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta nói: “Đây rất hẹp, đấy rất rộng.”; “Đây là nhà anh Hai, kia là nhà chú Năm, đấy là nhà cô Sáu.”…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.2 &lt;em&gt;Các kiểu quan hệ thời gian&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong không gian một chiều (đường thẳng), quan hệ không gian đặc trưng bằng khoảng cách &lt;em&gt;gần – xa &lt;/em&gt;vô hướng. Thời gian là đối tượng chuyển động có định hướng trước sau, do vậy quan hệ thời gian đặc trưng bằng khoảng cách &lt;em&gt;gần – xa &lt;/em&gt;hữu hướng và người Việt đã &lt;em&gt;tạo ra&lt;/em&gt; &lt;em&gt;những từ ngữ có chiều, nghĩa là những từ ngữ phân biệt được thời gian trong quá khứ và thời gian trong tương lai&lt;/em&gt;. Những từ chỉ không điểm thì không có chiều, như &lt;em&gt;này, đây, kia, đó, &lt;/em&gt;nhưng khi chuyển sang dùng cho thời gian thì cần tạo ra những từ &lt;em&gt;có chiều &lt;/em&gt;để phân biệt quá khứ và tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặt phẳng là một không gian hai chiều, mỗi điểm được xác định bằng một cặp hai yếu tố x, y tạo thành tọa độ của nó. Còn thời gian lại không phải là 2 chiều. Những từ phản ánh không gian 2 chiều như &lt;em&gt;mép, mé, cạnh, rìa, xéo, chéo,…&lt;/em&gt;không cần dùng cho lớp từ phản ánh thời gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.3 &lt;em&gt;Mở rộng lớp từ không gian thành lớp từ thời gian&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đào Thản [1983] cho rằng có thể tìm thấy sự tương ứng hoặc mối quan hệ chặt chẽ giữa phần lớn các đơn vị từ vựng biểu thị thời gian và quan hệ không gian. Chúng tôi cho rằng, lớp từ không gian xuất hiện trước sau đó chúng ta đã mở rộng lớp từ không gian thành lớp từ thời gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.3.1 Ba từ không gian cơ bản &lt;em&gt;đây, kia, đấy &lt;/em&gt;(và biến thể &lt;em&gt;đó, ấy&lt;/em&gt;)được chuyển thành bộ ba từ dùng trong những miêu tả thời gian hiện tại, quá khứ và tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ &lt;em&gt;đây &lt;/em&gt;trực chỉ không điểm trở thành một từ trực chỉ thời điểm nói, tức là thời điểm &lt;em&gt;hiện tại&lt;/em&gt;: “giờ &lt;em&gt;đây&lt;/em&gt;”; “&lt;em&gt;Đây&lt;/em&gt; là lúc non sông hùng tráng; Cờ Việt vàng son phơi phới trên trời cao”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Này &lt;/em&gt;là từ trực chỉ một không điểm xác định &lt;em&gt;ở ngay &lt;/em&gt;hoặc &lt;em&gt;rất gần &lt;/em&gt;nơi mà người nói nhìn thấy. Nó cũng được dùng để thay thế. Khi “này” làm định ngữ cho một từ chiếm một không gian thì nó chỉ ngay cái không gian mà người nói nhìn rất rõ đó. Chuyển sang nghĩa thời gian, khi “này” làm định ngữ cho một từ thời gian thì nó chỉ ngay cái thời điểm, thời đoạn&lt;a id="_ftnref1" title="" href="http://www.blogger.com/post-edit.g?blogID=7747722679074816162&amp;amp;postID=8831542869330757159#_ftn1" name="_ftnref1"&gt; &lt;/a&gt;người ta đang nói tới. Khi làm định ngữ cho một sự tình thì nó chỉ ngay cái sự tình được nói tới. Như vậy, &lt;em&gt;đây &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;này &lt;/em&gt;cũng được chuyển thành từ được dùng để tạo thành những từ trỏ thời điểm và thời đoạn hiện tại: giờ &lt;em&gt;này&lt;/em&gt;, tuần lễ ~; tuần ~; tháng ~; lúc ~; hồi ~; dạo ~; khi ~; đời ~; thời ~. &lt;em&gt;Này&lt;/em&gt; chuyển thành &lt;em&gt;nay&lt;/em&gt; cũng dùng trỏ thời gian hiện tại, thời điểm nói: &lt;em&gt;hiện nay, ngày nay, tuần nay, hôm nay, “Nay &lt;/em&gt;công bố quyết định&lt;em&gt;”…&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có sự khác biệt giữa &lt;em&gt;này &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;nay&lt;/em&gt;. So sánh:&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;Tháng &lt;em&gt;này&lt;/em&gt; tôi phải hoàn thành phần việc được giao.&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;Cả tháng &lt;em&gt;nay&lt;/em&gt; tôi chả làm được việc gì cả.&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;Câu (a) có thể nói vào một thời điểm bất kì nào trong tháng, kể từ ngày mồng một và thời đoạn kéo dài đến ngày cuối cùng của tháng (do điểm nhìn có thể đặt ở tương lai). Trong khi đó, câu (b) chỉ có thể nói vào một ngày nào đó sắp hết tháng và “ cả tháng nay” không nhất thiết bao gồm những ngày còn lại của tháng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai từ &lt;em&gt;ấy,&lt;/em&gt; &lt;em&gt;đó &lt;/em&gt;dùng để diễn đạt ý nghĩa quá khứ xa và không xác định, theo cấu trúc “X &lt;em&gt;ấy&lt;/em&gt;”,“X &lt;em&gt;đó&lt;/em&gt;”: &lt;em&gt;lúc ấy, năm ấy, ngày ấy, thời ấy, ngày đó, tuần đó, hồi đó, … “Đó”, “đấy”&lt;/em&gt; – những đại từ chỉ định – được chuyển thành từ đánh dấu mốc thời gian trong quá khứ xa: &lt;em&gt;Sau đó&lt;/em&gt; họ không gặp nhau nữa; &lt;em&gt;sau đấy &lt;/em&gt;mọi chuyện lại vẫn như cũ…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ &lt;em&gt;kia &lt;/em&gt;chủ yếu được dùng để trỏ thời gian quá khứ: hôm &lt;em&gt;kia&lt;/em&gt;, năm &lt;em&gt;kia&lt;/em&gt;, xưa &lt;em&gt;kia, &lt;/em&gt;trước &lt;em&gt;kia.&lt;/em&gt; Một trường hợp duy nhất &lt;em&gt;kia &lt;/em&gt;được dùng để trỏ thời gian tương lai: “ngày &lt;em&gt;kia&lt;/em&gt;” - mộtngày đến sau ngày hôm nay 2 ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chừng đó không đủ dùng để miêu tả &lt;em&gt;các kiểu quan hệ thời gian&lt;/em&gt; trong tri nhận của người Việt (xem mục 2.4, 2.5). Tận dụng đặc điểm tiếng Việt có thanh điệu, người Việt đã tạo ra những từ cùng vần hoặc cùng phụ âm đầu với 3 từ trên dùng để miêu tả các kiểu quan hệ thời gian. Đó là sự &lt;em&gt;mô phỏng&lt;/em&gt; các từ trỏ không gian để tạo ra những từ trỏ thời gian:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đây → đây, bây, bây giờ&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Này →này, rày, nay, nãy, nữa&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đấy → đấy, đó, ấy, bấy&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Kia → kia, kìa, kỉa &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.3.2 Những cách dùng từ ngữ trong tập hợp không gian được chuyển thành những cách dùng từ ngữ cho tập hợp thời gian. Nghĩa là, cách dùng từ ngữ thời gian có ý nghĩa &lt;em&gt;tương tự &lt;/em&gt;như cách dùng từ ngữ không gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Danh từ&lt;/em&gt; không gian trở thành danh từ thời gian. Ví dụ: 1)Từ “quanh” trỏ phần bao của một không gian, tạo ra sự nhận thức &lt;em&gt;phủ kín&lt;/em&gt; không gian đó, như “quanh vùng”, từ đó tạo ra nghĩa &lt;em&gt;phủ kín &lt;/em&gt;một thời đoạn: quanh năm. 2) Từ “suốt” có nghĩa “liền một mạch trong không gian”: Tít báo chạy suốt trang nhất; suốt từ đầu này tới đầu kia; cưa đứt đục suốt. Từ này được chuyển sang dùng để chỉ thời gian cũng với nghĩa “liền một mạch trong &lt;em&gt;thời gian&lt;/em&gt;”: suốt ngày, suốt buổi; suốt đời; quanh năm suốt tháng; 3) Từ “thôi” trỏ một không gian dài và liên tục: Đi một thôi thì gặp đường mòn. Từ này sẽ chuyển thành “trỏ một &lt;em&gt;thời gian &lt;/em&gt;dài và liên tục”: nói một &lt;em&gt;thôi &lt;/em&gt;một &lt;em&gt;hồi&lt;/em&gt;; “Đám trục lúa, chuyển thóc, cứ một &lt;em&gt;thôi nghỉ&lt;/em&gt; lại tốn hào kem”. (VN, 22.01.71, t.6); 4) Khoảng cách không gian trở thành khoảng cách thời gian. Từ &lt;em&gt;cách &lt;/em&gt;chỉ một sự tình đã xảy ra trong quá khứ: cách đây một tuần, cách đây vài hôm, cách đây một năm, 5) “&lt;em&gt;Lát&lt;/em&gt;” có nghĩa là “một miếng mỏng được cắt ra”. Mỏng là ít, là ngắn về thời đoạn. Cái miếng mỏng này được chuyển thành “khoảng thời gian rất ngắn” trong tương lai: Nghỉ &lt;em&gt;một lát&lt;/em&gt;, người bố nói tiếp. 6) “&lt;em&gt;Chút&lt;/em&gt;” có nghĩa là “một lượng rất nhỏ, không đáng kể”. Cái lượng rất nhỏ này cũng được chuyển thành “khoảng thời gian rất ngắn” trong tương lai: nghỉ &lt;em&gt;một&lt;/em&gt; &lt;em&gt;chút&lt;/em&gt;; chờ &lt;em&gt;chút nữa &lt;/em&gt;đi; chỉ &lt;em&gt;chút xíu &lt;/em&gt;nữa là tôi quên mất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Tính từ&lt;/em&gt; trỏ độ lớn không gian trở thành tính từ trỏ độ lớn thời gian: &lt;em&gt;dài, ngắn, rộng, hẹp,&lt;/em&gt; như: một ngày đêm &lt;em&gt;dài&lt;/em&gt; 24 tiếng, ngày &lt;em&gt;rộng &lt;/em&gt;tháng &lt;em&gt;dài&lt;/em&gt;, thời gian &lt;em&gt;eo hẹp&lt;/em&gt;, … Từ &lt;em&gt;mau &lt;/em&gt;không gian (lược &lt;em&gt;mau&lt;/em&gt;; mưa &lt;em&gt;mau &lt;/em&gt;hạt) trở thành từ &lt;em&gt;mau &lt;/em&gt;thời gian: em đi chàng theo sau, em không dám đi &lt;em&gt;mau; &lt;/em&gt;tiếng khoan như gió thoảng ngoài, tiếng &lt;em&gt;mau &lt;/em&gt;sầm sập như trời đổ mưa (TK); “&lt;em&gt;gần&lt;/em&gt;” là một từ chỉ một khoảng cách không gian không xa, “gần đây” chỉ một khoảng cách không xa vị trí của người nói được chuyển thành một thời điểm không xa lúc nói, như “mấy ngày gần đây”, “gần đây dư luận xôn xao về vụ X”…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Nữa,&lt;/em&gt; có ý nghĩa &lt;em&gt;bổ sung, thêm vào &lt;/em&gt;về số lượng ( thêm đoạn nữa, cho thêm tí nữa đi, người nữa, một tờ nữa) chuyển sang nghĩa thời gian thành &lt;em&gt;thời gian bổ sung, cộng thêm vào, &lt;/em&gt;vậy là thời gian đến sau. Từ đó, nó có ý nghĩa &lt;em&gt;tương lai: &lt;/em&gt;lát nữa, chốc nữa, mấy hôm nữa, tuần nữa, ba năm nữa…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Động từ chuyển động trong không gian trở thành động từ chuyển động trong thời gian:&lt;em&gt; Rồi- &lt;/em&gt;chỉ sự kết thúc của một hoạt động nghĩa là hoạt động đó đã xảy ra trong quá khứ: làm rồi, ăn rồi, đến nơi rồi. Từ ý nghĩa này, từ &lt;em&gt;rồi &lt;/em&gt;được dùng để trỏ thời gian quá khứ: vừa rồi, tuần rồi, tháng rồi, năm rồi, “Lâu rồi không thấy bác lại chơi”…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.4 &lt;em&gt;Vai trò của ẩn dụ&lt;/em&gt; “&lt;em&gt;thời gian là một đối tượng chuyển động” trong việc hình thành lớp từ vựng thời gian của tiếng Việt&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.4.1 Từ định hướng không gian tới định hướng thời gian&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con người có định hướng không gian &lt;em&gt;trước – sau &lt;/em&gt;và dùng hai giới từ TRƯỚC, SAU để định hướng .Từ đó trục không gian được sắp xếp theo trật tự: TRƯỚC – ĐÂY – SAU. Những quan hệ không gian trước – sau sẽ chuyển thành những quan hệ của những sự tình xảy ra trước và xảy ra sau, tức là những sự tình xảy ra trong quá khứ và tương lai. Trục này tương ứng với trục thời gian &lt;em&gt;quá khứ - hiện tại – tương lai &lt;/em&gt;vì thời gian đến trước là thời gian thuộc về quá khứ, thời gian đến sau thuộc về tương lai. Và các từ &lt;em&gt;trước, đây, sau &lt;/em&gt;lần lượt trở thành những từ dùng trong những miêu tả quá khứ, hiện tại và tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gọi A là một từ trỏ thời gian. “Thời gian A &lt;em&gt;đến trước&lt;/em&gt;”sẽ thuộc về quá khứ. Cấu trúc “A &lt;em&gt;đến trước&lt;/em&gt;” được rút gọn thành “A &lt;em&gt;trước&lt;/em&gt;”, một cấu trúc trỏ thời gian A thuộc quá khứ: giờ &lt;em&gt;trước&lt;/em&gt;; ngày ~; bữa ~; hôm ~; tuần ~; tháng ~; năm ~; ban ~; lúc ~; hồi ~; dạo ~; thuở ~; khi ~; đời ~; thời ~. Thời gian của sự tình “đến trước thời điểm &lt;em&gt;đấy, đó &lt;/em&gt;trong quá khứ hoặc thời điểm &lt;em&gt;đây &lt;/em&gt;hiện tại” cũng sẽ thuộc về quá khứ. Chúng ta nói gọn lại là “thời gian tới &lt;em&gt;trước&lt;/em&gt; lúc đấy, lúc đó, lúc đây”. Cuối cùng được rút gọn thành “&lt;em&gt;trước &lt;/em&gt;đấy”; “&lt;em&gt;trước &lt;/em&gt;đó”; “&lt;em&gt;trước &lt;/em&gt;đây”; “Thời gian tới &lt;em&gt;gần&lt;/em&gt; lúc đây” được rút gọn thành “&lt;em&gt;gần &lt;/em&gt;đây”. Cũng theo cách rút gọn như vậy, chúng ta nói: &lt;em&gt;trước &lt;/em&gt;giờ &lt;em&gt;này&lt;/em&gt;, &lt;em&gt;trước &lt;/em&gt;tuần &lt;em&gt;này&lt;/em&gt; ; &lt;em&gt;trước &lt;/em&gt;ngày &lt;em&gt;này&lt;/em&gt;; &lt;em&gt;trước&lt;/em&gt; tháng&lt;em&gt; này&lt;/em&gt;; &lt;em&gt;trước&lt;/em&gt; lúc&lt;em&gt; này&lt;/em&gt;. Hoàn toàn tương tự, thời gian chuyển động &lt;em&gt;đến sau &lt;/em&gt;thời điểm, thời đoạn hiện tại sẽ thành thời gian tương lai: sau lúc đây → &lt;em&gt;sau &lt;/em&gt;đây; &lt;em&gt;sau&lt;/em&gt; lúc&lt;em&gt; này &lt;/em&gt;→ &lt;em&gt;sau &lt;/em&gt;này; &lt;em&gt;sau &lt;/em&gt;giờ &lt;em&gt;này&lt;/em&gt;, &lt;em&gt;sau &lt;/em&gt;tuần &lt;em&gt;này&lt;/em&gt;; &lt;em&gt;sau &lt;/em&gt;ngày &lt;em&gt;này&lt;/em&gt;; sau ba ngày nữa; &lt;em&gt;sau&lt;/em&gt; tháng&lt;em&gt; này&lt;/em&gt;…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tương tự , cấu trúc “A &lt;em&gt;sau&lt;/em&gt;” là một cấu trúc trỏ thời gian A thuộc tương lai: giờ &lt;em&gt;sau&lt;/em&gt;; ngày ~; bữa ~; hôm ~; tuần ~; tháng ~; năm ~; lúc ~; hồi ~; đời ~; thời ~.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lưu ý về sự khác biệt sắc thái giữa &lt;em&gt;trước &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;cách. &lt;/em&gt;Ví dụ:“&lt;em&gt;Trước&lt;/em&gt; đây một tuần” và “&lt;em&gt;Cách &lt;/em&gt;đây một tuần”.Dùng ẩn dụ thời gian là một đối tượng chuyển động, nên “&lt;em&gt;Trước&lt;/em&gt; đây một tuần” là lối nói nhấn mạnh tới sự vận động của thời gian. Trong khi đó, “&lt;em&gt;Cách &lt;/em&gt;đây một tuần” nhấn mạnh tới độ chính xác về khoảng cách thời gian. Cũng lí do trên, chúng ta nói được “&lt;em&gt;lúc trước&lt;/em&gt;” nhưng không thể nói “*&lt;em&gt;lúc cách&lt;/em&gt;”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do &lt;em&gt;thời gian là một đối tượng chuyển động&lt;/em&gt; nên những từ ngữ đặc biệt chỉ “độ lớn” và “tốc độ” chuyển động cũng chỉ thời gian &lt;em&gt;đã xảy ra, &lt;/em&gt;tức là thời gian trong quá khứ: &lt;em&gt;lâu, mau, loáng, nhoáng, thoáng, chóng, chày, thoắt, ù, vèo,… &lt;/em&gt;như: &lt;em&gt;thoắt&lt;/em&gt; cái đã biến mất; ý nghĩ &lt;em&gt;thoáng &lt;/em&gt;qua trong đầu; chạy &lt;em&gt;ù&lt;/em&gt; về nhà; đạn &lt;em&gt;vèo &lt;/em&gt;qua bên tai…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời gian là một đối tượng chuyển động nên có đầu có cuối: đầu tuần, đầu năm, đầu giờ, cuối buổi…Đặt trong một phát ngôn thể hiện những hành vi cụ thể, những tổ hợp trên sẽ tạo ra ý nghĩa thời gian cụ thể. Khi nghe “Cuối buổi sáng nay, mời ông quay lại đây”, “Đầu giờ chiều nay, mời ông quay lại đây”… Hành vi đề nghị “mời thực hiện một việc” cho biết việc này xảy ra trong tương lai. (xem §4) Vậy “cuối buổi sáng nay”, “Đầu giờ chiều nay” là những thời gian trong tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.4.2 &lt;em&gt;Khuôn tạo từ không gian chuyển thành khuôn tạo từ thời gian&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta chuyển động trong không gian từ &lt;em&gt;gốc &lt;/em&gt;A tới &lt;em&gt;đích &lt;/em&gt;B theo khuôn “từ A đến (/tới/ra/sang…) B”. Từ đó hình thành hàng loạt từ ghép AB, như &lt;em&gt;trên dưới, trước sau, sau trước, phải trái.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời gian cũng là một đối tượng chuyển động từ &lt;em&gt;gốc &lt;/em&gt;A tới &lt;em&gt;đích &lt;/em&gt;B và cũng theo khuôn “từ A đến (/tới/ra/sang…) B”. Từ đó cũng hình thành hàng loạt từ ghép biểu hiện thời gian AB thuận theo chuyển động tự nhiên của thời gian, như &lt;em&gt;sáng chiều, chiều tối, tối khuya, tối đêm, khuya sớm, sớm muộn… &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;4. Sự chuyển nghĩa không gian thành nghĩa thời gian&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.1 &lt;em&gt;Điểm nhìn &lt;/em&gt;hay là &lt;em&gt;thời điểm nhìn&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các từ &lt;em&gt;trước ; đây/này ; sau &lt;/em&gt;phân đoạn thời gian thành quá khứ – hiện tại – tương lai chỉ là phân đoạn &lt;em&gt;qui ước &lt;/em&gt;theo thời điểm nói hiện tại. Dùng &lt;em&gt;trước đây &lt;/em&gt;để chỉ thời gian trong quá khứ, còn &lt;em&gt;sau đây, sau này &lt;/em&gt;để chỉ thời gian trong tương lai. Trong thực tế sử dụng tiếng Việt, nếu như người nói luôn luôn sử dụng điểm nhìn để định vị các từ ngữ trong không gian thì người nói cũng sử dụng điểm nhìn – thời điểm nhìn - để chuyển những phân đoạn thời gian qui ước theo thời gian của điểm nhìn, và như vậy có thể khác với thời gian qui ước. Điểm nhìn sẽ tạo ra “không gian điểm nhìn” hay là “không gian tâm thức” (mental space) theo quan niệm của G. Fauconnier, x.[25]. Đại từ thay thế &lt;em&gt;này, &lt;/em&gt;các tổ hợp từ trỏ thời gian “X &lt;em&gt;đây&lt;/em&gt; ”, “X &lt;em&gt;đó&lt;/em&gt;”; “X &lt;em&gt;đấy&lt;/em&gt;”; “X &lt;em&gt;này&lt;/em&gt; ” có thể dùng để biểu hiện thời điểm nhìn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta minh họa qua một vài ví dụ. Một bài hát có lời “&lt;em&gt;&lt;u&gt;ngày này&lt;/u&gt; năm xưa em còn bé tí teo; &lt;u&gt;ngày này&lt;/u&gt; năm xưa em bé như con mèo. N&lt;u&gt;gày này&lt;/u&gt; &lt;/em&gt;năm nay không còn bé tí teo...” Lúc chúng ta kéo “&lt;em&gt;ngày này&lt;/em&gt;” về quá khứ năm xưa, lúc lại kéo nó trở lại hiện tại năm nay. Bình thường &lt;em&gt;sau này, về sau &lt;/em&gt;để chỉ thời gian trong tương lainhư “&lt;em&gt;Sau này &lt;/em&gt;hẵng hay”, nhưng nếu lấy một thời điểm nhìn trong quá khứ thì &lt;em&gt;sau này, về sau &lt;/em&gt;vẫn có thể chỉ một sự kiện trong quá khứ: &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;“&lt;em&gt;Trước đây&lt;/em&gt; tôi cứ đơn giản nghĩ rằng &lt;em&gt;sau này &lt;/em&gt;tình hình sẽ tốt đẹp hơn, nhưng thực tế không phải vậy.” &lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;Thời điểm nói câu trên là &lt;em&gt;hiện tại. &lt;/em&gt;Nhưng thời điểm nhìn khi nói câu (1) được đặt vào một thời đoạn quá khứ “&lt;em&gt;trước đây&lt;/em&gt;”. Lúc đó tôi nghĩ trong &lt;em&gt;tương lai&lt;/em&gt; “sau này”. Nghĩa là từ &lt;em&gt;sau này &lt;/em&gt;được đặt trong phạm vi tác động của &lt;em&gt;trước đây&lt;/em&gt;, nên nó trở thành &lt;em&gt;quá khứ.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Sau này &lt;/em&gt;tôi mới hiểu đó là lời nói đùa.&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;Thời điểm nói câu (2) cũng ở &lt;em&gt;hiện tại. &lt;/em&gt;Bình thường, trạng ngữ thời gian &lt;em&gt;sau này &lt;/em&gt;trỏ sự tình xảy ra trong tương lai, nhưng từ “&lt;em&gt;mới&lt;/em&gt;” trong câu (2) cho biết “tôi &lt;em&gt;đã&lt;/em&gt; hiểu” vào thời điểm &lt;em&gt;sau này&lt;/em&gt;. Nghĩa là sự tình “tôi hiểu” đã xảy ra trong quá khứ, nghĩa là vào thời điểm &lt;em&gt;sau này.&lt;/em&gt; Suy ra thời điểm nhìn của &lt;em&gt;sau này &lt;/em&gt;đã đặt ở quá khứ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy:&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Sau này, sau khi &lt;/em&gt;có thể biểu hiện một sự tình trong &lt;em&gt;tương lai&lt;/em&gt;: sau này con sẽ hiểu; &lt;em&gt;Sau khi&lt;/em&gt; tôi nói xong, các bạn sẽ phát biểu.&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Sau này, sau khi &lt;/em&gt;cũng có thể biểu hiện một sự tình trong &lt;em&gt;quá khứ&lt;/em&gt;: “Sau này tôi mới hiểu ra ý của ông ấy”; “Cô bỏ chìa khóa vào túi &lt;em&gt;sau khi &lt;/em&gt;khóa cửa”. &lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;Từ &lt;em&gt;rồi &lt;/em&gt;để trỏ điều vừa nói đến đã được thực hiện, nghĩa là nó trỏ một sự tình đã xảy ra trong quá khứ: “Bà không về nữa &lt;em&gt;rồi&lt;/em&gt;”. Nhưng nếu đặt thời điểm nhìn ở tương lai thì sự tình vẫn xảy ra trong tương lai: “&lt;em&gt;Sáng mai&lt;/em&gt; bà không về nữa &lt;em&gt;rồi&lt;/em&gt;” (&lt;em&gt;Cây sồi mùa đông&lt;/em&gt;, truyện dịch); “Anh hãy ở lại chơi với anh Ba một ngày nữa. Mai anh ấy đi rồi.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(4) Thứ năm tuần sau vào &lt;em&gt;giờ&lt;/em&gt; &lt;em&gt;này &lt;/em&gt;chúng ta lại gặp nhau nhé!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cái “giờ này” không còn ở thời hiện tại. Chúng ta đã chuyển nó đến thời điểm nhìn vào một ngày trong tương lai. Đó là &lt;em&gt;thứ năm tuần sau&lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(5) &lt;em&gt;Trước đó&lt;/em&gt;, tôi luôn luôn nghĩ mình đúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(6) &lt;em&gt;Sau đó, &lt;/em&gt;tôi chỉ im lặng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở hai câu cuối, người nói đã chuyển thời điểm nhìn về &lt;em&gt;trước&lt;/em&gt; hoặc &lt;em&gt;sau&lt;/em&gt; thời gian “&lt;em&gt;đó&lt;/em&gt;” trong quá khứ. Vậy các sự tình đã xảy ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.2 &lt;em&gt;Các đơn vị thời gian của người Việt&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lịch thời gian của người Việt theo mặt trăng. Sau này cũng dùng lịch theo mặt trời, nên có những cách dùng và những đơn vị thời gian pha trộn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đời, kiếp, tuổi &lt;/em&gt;làkhoảng thời gian sống, thời gian tồn tại của một sinh vật. Chúng có đơn vị thời gian là &lt;em&gt;năm.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đơn vị của năm là &lt;em&gt;tháng. &lt;/em&gt;Đơn vị của tháng là &lt;em&gt;ngày&lt;/em&gt; (chứ không phải là &lt;em&gt;hôm&lt;/em&gt;)&lt;em&gt;. &lt;/em&gt;Đơn vị của ngày là &lt;em&gt;giờ, khắc&lt;/em&gt;. Đơn vị của giờ là &lt;em&gt;phút.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hết một năm, người Việt có thói quen điểm lại những sự việc được mất, may rủi trong năm qua. Đó là lúc sắp sang năm mới người ta &lt;em&gt;ngoái nhìn lại &lt;/em&gt;một năm đã qua, từ những ngày đầu tới ngày cuối. Vậy là hình thành cách nói &lt;em&gt;năm ngoái&lt;/em&gt;, tức là năm qua&lt;em&gt;. &lt;/em&gt;Người Việt không có thói quen tổng kết; không có thói quen &lt;em&gt;nhìn lại &lt;/em&gt;sau một tháng, một tuần và lại càng không phải sau một ngày. Vì vậy, không có cách nói *&lt;em&gt;tháng ngoái, *tuần ngoái, *ngày ngoái. &lt;/em&gt;Năm là đơn vị thời gian duy nhất trong cuộc đời mà người ta &lt;em&gt;ngoái &lt;/em&gt;nhìn lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước đây, với người Việt theo phép đo đạc thời gian &lt;em&gt;can chi &lt;/em&gt;cổ truyền của Trung Quốc, &lt;em&gt;thiên can &lt;/em&gt;(10 can: giáp, ất, bính, đinh,…) và &lt;em&gt;địa chi &lt;/em&gt;(12 &lt;em&gt;chi&lt;/em&gt;: tý, sửu, dần , mão,…). Mưa không qua &lt;em&gt;ngọ&lt;/em&gt; , gió chẳng qua &lt;em&gt;mùi&lt;/em&gt;; Đêm 5 &lt;em&gt;canh&lt;/em&gt;, ngày 6 &lt;em&gt;khắc&lt;/em&gt;; Tấm phải làm luôn &lt;em&gt;canh&lt;/em&gt; (Truyện Tấm Cám); Nửa đêm, &lt;em&gt;giờ&lt;/em&gt; &lt;em&gt;tý&lt;/em&gt;, &lt;em&gt;canh&lt;/em&gt; 3; Tình chung một &lt;em&gt;khắc&lt;/em&gt; nghĩa dài trăm &lt;em&gt;năm&lt;/em&gt; (cd); Như vậy, độ dài của &lt;em&gt;canh&lt;/em&gt; và &lt;em&gt;khắc&lt;/em&gt; khác nhau: canh = 1/5 đêm; khắc1 = 1/6 ngày (cần phân biệt với &lt;em&gt;khắc2 = &lt;/em&gt;¼ giờ = 15 phút)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.3 &lt;em&gt;Phân cắt thời gian &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người Việt lưỡng phân ngày/đêm. Một ngày được phân thành những thời đoạn &lt;em&gt;sáng, sớm, trưa, chiều, tối, đêm. &lt;/em&gt;Các thời đoạn này có thể được phân nhỏ hơn nữa nhưng với ranh giới không rõ ràng. Chúng ta gặp &lt;em&gt;tờ mờ sáng, sớm, sáng, sáng sớm, trưa, xế trưa, chiều, xế chiều, chập tối, nhá nhem tối, tối, khuya. &lt;/em&gt;Tên chung cho những đơn vị này, tức “loại từ” thời gian, là &lt;em&gt;ban, buổi, bữa. Ban sáng/ ~ trưa, ~ chiều, ~ tối, ~ đêm.&lt;/em&gt; &lt;em&gt;Buổi sáng, ~ trưa, ~ chiều, ~ tối. Bữa sáng, ~ trưa, ~ chiều, ~ tối. &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự khu biệt của chúng như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Ban &lt;/em&gt;có thể kết hợp với &lt;em&gt;nãy &lt;/em&gt;để chỉ quá khứ gần, còn &lt;em&gt;buổi &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;bữa&lt;/em&gt; thì không: Nói &lt;em&gt;ban nãy&lt;/em&gt;, nhưng không nói *&lt;em&gt;buổi nãy, *bữa nãy.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Buổi&lt;/em&gt; nhấn mạnh tới &lt;em&gt;công việc. &lt;/em&gt;Với ý nghĩa này, không thể thay &lt;em&gt;buổi &lt;/em&gt;bằng &lt;em&gt;ban,&lt;/em&gt; như: &lt;em&gt;buổi&lt;/em&gt; làm; nghỉ mất &lt;em&gt;buổi &lt;/em&gt;học; ngày hai &lt;em&gt;buổi &lt;/em&gt;đến trường; học Anh văn &lt;em&gt;buổi &lt;/em&gt;đực &lt;em&gt;buổi&lt;/em&gt; cái; &lt;em&gt;buổi&lt;/em&gt; chợ (gái thương chồng đang đông buổi chợ). Hầu như không nói &lt;em&gt;*buổi đêm &lt;/em&gt;(vì người xưa không có buổi làm việc vào đêm); &lt;em&gt;thời buổi&lt;/em&gt; gạo châu củi quế này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người Việt cũng phân chia thời gian trong ngàytheo những &lt;em&gt;bữa&lt;/em&gt; &lt;em&gt;ăn &lt;/em&gt;nhất định. &lt;em&gt;Bữa &lt;/em&gt;thành một đơn vị thời gian: &lt;em&gt;bữa&lt;/em&gt; trước; &lt;em&gt;bữa&lt;/em&gt; sáng; dăm &lt;em&gt;bữa&lt;/em&gt; nửa tháng; &lt;em&gt;bữa &lt;/em&gt;qua;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có sự phân biệt giữa &lt;em&gt;sáng &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;sớm&lt;/em&gt;:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Sáng - &lt;/em&gt;có nhiều ánh sáng khiến trông rõ. &lt;em&gt;Sáng &lt;/em&gt;đối lập với&lt;em&gt; tối&lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Sớm –&lt;/em&gt; thời điểm, thời đoạn đến trước trong ngày. Phái sinh của nghĩa này là đến trước thời hạn (lấy chồng &lt;em&gt;sớm&lt;/em&gt; làm gì/để lời ru thêm buồn). &lt;em&gt;Sớm &lt;/em&gt;đối lập với &lt;em&gt;muộn. &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người Việt có nhận thức về những sự kiện được lặp lại theo chu kì, thành một vòng thời gian &lt;em&gt;tuần hoàn&lt;/em&gt;,với tên gọi là &lt;em&gt;tuần&lt;/em&gt;. Đó là &lt;em&gt;tuần trăng, tuần nhang, tuần chay… &lt;/em&gt;Trong tuần trăng lại phân thành thượng tuần, trung tuần, hạ tuần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khái niệm “cúng &lt;em&gt;tuần&lt;/em&gt;” trỏ việc cúng vào một số ngày là bội số của 7: cúng7 ngày, cúng 21 ngày, cúng 49 ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khái niệm “tuần lễ” xuất hiện khi đạo Cơ đốc truyền vào Việt Nam. Người Việt thấy rằng cứ sau một chu kì 7 ngày, giáo dân lại tới nhà thờ làm &lt;em&gt;lễ,&lt;/em&gt; nên gọi cái chu kì này là &lt;em&gt;tuần lễ.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những chu kì thời gian theo thuyết luân hồi của đạo Phật: &lt;em&gt;đờì, kiếp. &lt;/em&gt;Một vòng đời; một kiếp người…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.4 &lt;em&gt;Người Việt không đo đạc, ước lượng chính xác&lt;/em&gt; &lt;em&gt;thời gian &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.4.1 Trong tiếng Việt nhiều từ ngữ đo lường thời gian không chính xác. Thời đoạn là một quá trình có thể đo đạc, ước lượng được. Nhưng có những thời đoạn không xác định: &lt;em&gt;chốc, chút , lát, dạo, giấc &lt;/em&gt;là những thời đoạn không có độ dài xác định nên không thể kết hợp với số từ và cũng không thể đo thời đoạn đó lâu hay mau. Nghĩa là không thể nói &lt;em&gt;*&lt;/em&gt;năm&lt;em&gt; chốc; *&lt;/em&gt;hai&lt;em&gt; chút; *&lt;/em&gt;ba&lt;em&gt; lát&lt;/em&gt;, * 4 dạo, &lt;em&gt;*lát&lt;/em&gt; lâu, &lt;em&gt;*chốc &lt;/em&gt;mau. Chỉ có thể nói &lt;em&gt;một chút, một lát, một dạo; đôi chút; chẳng mấy chốc.&lt;/em&gt;... như là những quán ngữ trỏ &lt;em&gt;toàn khoảng&lt;/em&gt; thời đoạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có mối quan hệ chuyển biến giữa thời đoạn (có độ dài) và thời điểm (không có độ dài): Khi thời gian &lt;em&gt;quá xa&lt;/em&gt;, càng xa càng khó nhìn thấy cả một đoạn, nên thời đoạn dần dần trở thành thời điểm. Trong cách nói “&lt;em&gt;Năm&lt;/em&gt; tôi ra đời” thì “năm” chỉ thời điểm. Còn “&lt;em&gt;thuở&lt;/em&gt;” chỉ một thời điểm rất xa: “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”. Cả đời người cũng có thể trở thành thời điểm: “Trên hành tinh có 5 tỉ tuổi như Trái đất thì đời người chỉ là &lt;em&gt;chất điểm,&lt;/em&gt; quá ngắn ngủi” (TT, 26.7.2009).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đơn vịđo thời đoạn “&lt;em&gt;hồi&lt;/em&gt;” chỉ một quá trình hoạt động liên tục này khá co giãn:&lt;em&gt; hồi &lt;/em&gt;trống, &lt;em&gt;hồi&lt;/em&gt; chuông, gió rít từng &lt;em&gt;hồi&lt;/em&gt;; “trống đánh ba &lt;em&gt;hồi &lt;/em&gt;đã thấy quan”. &lt;em&gt;Hồi&lt;/em&gt; chuyển thành một từ trỏ thời đoạn:&lt;em&gt; hồi &lt;/em&gt;lâu, &lt;em&gt;hồi &lt;/em&gt;chiều&lt;em&gt;, hồi &lt;/em&gt;hôm, &lt;em&gt;hồi &lt;/em&gt;trẻ. Còn &lt;em&gt;giấc –&lt;/em&gt; khoảng thời gian ngủ - cũng được dùng để đo thời đoạn: Cứ &lt;em&gt;giấc&lt;/em&gt; trưa là nó về; vào &lt;em&gt;giấc&lt;/em&gt; này đường vắng. (TĐTV)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với người Việt: thời gian &lt;em&gt;gần &lt;/em&gt;thì dễ xác định, thời gian &lt;em&gt;xa&lt;/em&gt; thì khó xác định. Với 10 ngày đầu tháng, chúng ta đo chính xác bằng loại từ &lt;em&gt;mồng/mùng.&lt;/em&gt; Nhưng từ ngày thứ 11 trở đi không có loại từ cho những ngày này. Không nói được *mồng 11, *mồng 25…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Ước lượng thời gian ban ngày&lt;/em&gt; theo &lt;em&gt;vị trí&lt;/em&gt; của mặt trời:mặt trời &lt;em&gt;đã lên khỏi ngọn tre/lên một con sào; &lt;/em&gt;mặt trời đã &lt;em&gt;đứng bóng &lt;/em&gt;(= giữa trưa), mặt trời sắp &lt;em&gt;lặn&lt;/em&gt; rồi&lt;em&gt;.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo một bài đồng dao thì người Bắc Bộ đo&lt;em&gt; ngày trong tháng &lt;/em&gt;theo&lt;em&gt; mặt trăng.&lt;/em&gt; &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;Những ngày đầu tháng, đo theo &lt;em&gt;hình thức&lt;/em&gt; của mặt trăng: “mồng một &lt;em&gt;lưỡi trai, &lt;/em&gt;mồng hai &lt;em&gt;lá lúa, &lt;/em&gt;mồng ba &lt;em&gt;lưỡi liềm&lt;/em&gt;, mồng bốn &lt;em&gt;câu liêm, &lt;/em&gt;mồng năm &lt;em&gt;liềm giật&lt;/em&gt;, mồng sáu &lt;em&gt;thật trăng&lt;/em&gt;”&lt;em&gt;. &lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;- Những ngày từ giữa tháng trở đi: &lt;em&gt;đo theo công việc liên quan đến giờ trăng lên&lt;/em&gt;:“Mười bẩy &lt;em&gt;sẩy giường chiếu; &lt;/em&gt;mười tám &lt;em&gt;nhám trấu;&lt;/em&gt; mười chín &lt;em&gt;rụn rịn (?) nụ cười&lt;/em&gt;, hai mươi &lt;em&gt;giấc tốt,&lt;/em&gt; hăm mốt &lt;em&gt;nửa đêm&lt;/em&gt;”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Không đo được thời gian trăng lên cho những ngày cuối cùng trong tháng: “hăm nhăm &lt;em&gt;đã vậy&lt;/em&gt;, hăm sáu &lt;em&gt;làm sao&lt;/em&gt;, hăm tám &lt;em&gt;thế nào&lt;/em&gt;, hăm chín &lt;em&gt;thế ấy&lt;/em&gt;. Ba mươi &lt;em&gt;không trăng&lt;/em&gt;”&lt;em&gt;.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.4.2 Người Việt phân biệt nhiều trạng thái thời gian &lt;em&gt;quá khứ &lt;/em&gt;hơn là trạng thái thời gian trong &lt;em&gt;hiện tại&lt;/em&gt; và &lt;em&gt;tương lai&lt;/em&gt;. Có thể nguyên do là những điều đã biết, đã xảy ra thì &lt;em&gt;dễ thấy &lt;/em&gt;hơn và do vậy dễ phân biệt được nhiều hơn những điều dự đoán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để tạo ra cách nói thể hiện thời gian trong quá khứ, chúng ta có những 10 từ &lt;em&gt;ấy, nãy, đó, nọ, kia, qua, trước, rồi, ngoái, xưa. &lt;/em&gt;Trong khi đó chỉ có hai từ &lt;em&gt;này, nay &lt;/em&gt;chỉ thời điểm nói, nên chúng thể hiện thời hiện tại (và từ &lt;em&gt;đây &lt;/em&gt;trong cách nói duy nhất &lt;em&gt;giờ đây&lt;/em&gt;). Để chỉ thời gian trong tương lai có các từ &lt;em&gt;sau, tới &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;nữa &lt;/em&gt;(và duy nhất có phân biệt 3 ngày trong tương lai &lt;em&gt;mai, mốt, kia&lt;/em&gt;). Những từ ngữ cụ thể, xem §4.5.2.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5 &lt;em&gt;Biểu hiện phạm trù thời gian qua từ vựng và các tổ hợp từ vựng &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.1 Đó là các từ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- có nguồn gốc không gian: &lt;em&gt;đây, nay, này, nãy, ấy, đó, nọ, kia&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- có nguồn gốc từ ẩn dụ thời gian chuyển động: &lt;em&gt;qua, tới, trước, sau&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;-&lt;/em&gt; các từ chỉ thời đoạn: &lt;em&gt;ban, hồi, lúc, lát, độ, cữ&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- có nguồn gốc từ những từ chứa một tiền giả định về thời gian: &lt;em&gt;rồi, mai, mốt, ngay, liền, mới, vừa, định, toan , chực &lt;/em&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.2 Tạo ý nghĩa thời gian qua biện pháp tổ hợp từ ngữ thời gian&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là cách tổ hợp các từ chỉ định không gian, các từ thời đoạn, các tính từ (&lt;em&gt;lâu, xưa&lt;/em&gt;) và các từ thời gian. Người Việt có phân biệt &lt;em&gt;thời gian gần&lt;/em&gt; và &lt;em&gt;thời gian xa. &lt;/em&gt;Những ý nghĩa này liên quan trực tiếp tới &lt;em&gt;thuộc tính&lt;/em&gt; của những từ trong các tổ hợp từ ngữ thời gian .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những từ trỏ không điểm gần (&lt;em&gt;đây, này &lt;/em&gt;và biến thể &lt;em&gt;nay, nãy&lt;/em&gt;) sẽ tạo ra thời gian gần. Những từ trỏ không điểm xa (&lt;em&gt;đấy, ấy, đó, nọ, kia&lt;/em&gt;) sẽ tạo ra thời gian xa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dùng từ &lt;em&gt;đây &lt;/em&gt;để tạo ra cụm từ mang ý nghĩa quá khứ bằng cách nhìn nhận “khoảng cách thời gian chuyển động cho tới lúc &lt;em&gt;đây&lt;/em&gt;”, tức là &lt;em&gt;cách đây&lt;/em&gt;: cách đây 1 tuần, cách đây không lâu… Dùng từ &lt;em&gt;sau &lt;/em&gt;(với ẩn dụ ẩn dụ thời gian là một đối tượng chuyển động) sẽ tạo ra ý nghĩa tương lai “&lt;em&gt;Sau&lt;/em&gt; 15 ngày nữa mới hết hạn”, hôm&lt;em&gt; sau, &lt;/em&gt;tuần&lt;em&gt; sau,…&lt;/em&gt;Từ thời đoạn X nào đứng trước &lt;em&gt;SAU&lt;/em&gt;, tức là “X (đến) sau”, sẽ là thời đoạn &lt;em&gt;đến sau&lt;/em&gt;: lúc&lt;em&gt; sau, &lt;/em&gt;lát&lt;em&gt; sau, &lt;/em&gt;hồi &lt;em&gt;sau, &lt;/em&gt;hôm&lt;em&gt; sau&lt;/em&gt;… Nếu điểm nhìn của &lt;em&gt;sau &lt;/em&gt;đặt ở quá khứ thì chúng trở thành thời gian quá khứ xảy ra trước hiện tại và sau lúc SAU&lt;em&gt;. &lt;/em&gt;Nếu điểm nhìn của phát ngôn ở hiện tại thì chúng trỏ thời gian trong tương lai. Tương tự, từ thời đoạn X nào đứng trước &lt;em&gt;TRƯỚC&lt;/em&gt;, tức là “X (đến) trước”,sẽ là thời đoạn &lt;em&gt;đến trước&lt;/em&gt;: lúc&lt;em&gt; trước, &lt;/em&gt;hồi&lt;em&gt; trước, &lt;/em&gt;hôm&lt;em&gt; trước&lt;/em&gt;, ngày&lt;em&gt; trước…&lt;/em&gt;Chúng đều trỏ thời gian trong quá khứ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con người trưởng thành theo chuyển động thời gian nên &lt;em&gt;lớn lên &lt;/em&gt;(sẽ hiểu) là cách diễn đạt tương lai không xác định.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để tạo ra ý nghĩa “tương lai gần” có những cách sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Kết hợp &lt;em&gt;đây &lt;/em&gt;với &lt;em&gt;sau&lt;/em&gt;, thành “sau (lúc) đây”, sẽ tạo ra ý nghĩa “tương lai gần nhất, ngay sau thời điểm hiện tại”:&lt;em&gt;sau đây, ngay sau đây&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;- Nữa &lt;/em&gt;có nghĩa là “bổ sung, thêm vào”. Mà “bổ sung, thêm vào” thì không nhiều. Thời gian thêm vào là thời gian trong tương lai. Vậy &lt;em&gt;nữa &lt;/em&gt;cũng là một chỉ tố tương lai gần. Các từ chỉ thời đoạn ngắn &lt;em&gt;lát, chốc &lt;/em&gt;kết hợp với &lt;em&gt;nữa&lt;/em&gt; sẽ mang ý nghĩa tương lai gần: &lt;em&gt;lát nữa&lt;/em&gt;, &lt;em&gt;chốc nữa&lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để tạo ra ý nghĩa “quá khứ gần” có những cách sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Từ &lt;em&gt;qua &lt;/em&gt;trỏ một đơn vị thời gian chuyển động ở thời điểm &lt;em&gt;liền trước&lt;/em&gt; hiện tại nên nó là một chỉ tố biểu hiện thời gian quá khứ liền kề với hiện tại. Những thời đoạn kết hợp với &lt;em&gt;qua sẽ &lt;/em&gt;tạo ra ý nghĩa quá khứ &lt;em&gt;gần&lt;/em&gt; (tính theo thời đoạn đó): &lt;em&gt;giờ qua, bữa qua, hôm qua, ngày qua, tuần qua, tháng qua, năm qua, hồi qua, đời qua&lt;/em&gt; (và từ &lt;em&gt;ngoái &lt;/em&gt;cho đơn vị năm: năm &lt;em&gt;ngoái&lt;/em&gt;).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;- Nãy &lt;/em&gt;dùng với ý nghĩa một chỉ tố thời gian quá khứ gần, do &lt;em&gt;nãy &lt;/em&gt;là phái sinh của &lt;em&gt;này – &lt;/em&gt;một từ chỉ không điểm ở ngay chỗ người nói&lt;em&gt;. &lt;/em&gt;&lt;em&gt;Nữa &lt;/em&gt;đối lập với&lt;em&gt; nãy &lt;/em&gt;trong quan hệ tương lai – quá khứ. Chúng ta có cách nói “lát &lt;em&gt;nữa&lt;/em&gt;”, “chốc &lt;em&gt;nữa&lt;/em&gt;” để chỉ tương lai gần (mà không có “*lát nãy”, “*chốc nãy”). Còn các từ chỉ thời đoạn, thời điểm &lt;em&gt;ban, hồi, lúc, khi &lt;/em&gt;kết hợp với &lt;em&gt;nãy &lt;/em&gt;sẽ tạo ra cụm từ trỏ thời gian trong &lt;em&gt;quá khứ&lt;/em&gt; &lt;em&gt;gần&lt;/em&gt;: &lt;em&gt;ban nãy, lúc nãy, hồi nãy, khi nãy, vừa nãy… &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để trỏ một quá khứ chưa xa, chúng ta có &lt;em&gt;gần đây -&lt;/em&gt; khoảng cách &lt;em&gt;gần ngay&lt;/em&gt; thời điểm hiện tại “đây”, &lt;em&gt;rồi, trước &lt;/em&gt;(&lt;em&gt;hôm rồi, hôm trước, bữa rồi, bữa trước, năm rồi, năm trước, tuần rồi, tuần trước…&lt;/em&gt;)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ &lt;em&gt;kia &lt;/em&gt;trỏ thời gian &lt;em&gt;không liền kề&lt;/em&gt; với thời gian hiện tại mà cách 2 đơn vị (bữa &lt;em&gt;kia&lt;/em&gt;, hôm &lt;em&gt;kia, &lt;/em&gt;ngày &lt;em&gt;kia, &lt;/em&gt;năm &lt;em&gt;kia&lt;/em&gt;) nên hình thành nét nghĩa “thời điểm ở xa” trong quá khứ hoặc tương lai của &lt;em&gt;kia&lt;/em&gt;. Quá khứ&lt;em&gt; xa: trước kia&lt;/em&gt;; &lt;em&gt;trước đây; &lt;/em&gt;cho đến &lt;em&gt;lúc ấy&lt;/em&gt;, tôi vẫn chưa hiểu ông ta/(điều này). Từ &lt;em&gt;xưa &lt;/em&gt;có nghĩa là cũ. Cái xưa cũ trước thời điểm &lt;em&gt;kia &lt;/em&gt;sẽ là rất xa, xa hơn nữa: &lt;em&gt;xưa kia &lt;/em&gt;trỏ quá khứ rất xa. Để trỏ quá khứ rất xa còn có “ngày &lt;em&gt;xưa&lt;/em&gt;”&lt;em&gt;.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tương tự, &lt;em&gt;đấy, đó &lt;/em&gt;chỉ không điểm cách xa người nói nên khi dùng &lt;em&gt;đấy, đó &lt;/em&gt;(và biến thể &lt;em&gt;ấy, nọ&lt;/em&gt;)chỉ thời điểm nó cũng chuyển thành ý nghĩa “thời điểm ở xa” trong quá khứ: &lt;em&gt;ngày đó, ngày ấy, ngày nọ, hồi đó, dạo ấy, thời đó, thuở ấy,&lt;/em&gt; năm &lt;em&gt;xưa/ấy …&lt;/em&gt; Vì thời gian ở xa thì khó nhìn rõ, khó xác định nên những cách nói trên không có thời điểm xác định trong quá khứ. Lượng từ &lt;em&gt;một &lt;/em&gt;trỏ sự không xác định của đối tượng mà nó đi kèm. Vậy nên &lt;em&gt;một hôm &lt;/em&gt;trỏ một ngày không xác định trong quá khứ và cũng trở thành một cụm từ chỉ quá khứ xa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời gian trong tương lai : &lt;em&gt;nay mai, mai kia, mai sau &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dùng phụ từ thời gian biểu hiện thời gian quá khứ và tương lai. Phân biệt &lt;em&gt;nọ/ kia&lt;/em&gt;:&lt;em&gt; Nọ &lt;/em&gt;luôn luôn chỉ quá khứ. Còn &lt;em&gt;kia, &lt;/em&gt;tùy theo từ mà nó đi kèm, &lt;em&gt;ngày &lt;/em&gt;hay &lt;em&gt;hôm&lt;/em&gt;, sẽ chỉ tương lai hay quá khứ:&lt;em&gt; ngày kia&lt;/em&gt; trỏ thời điểm trong tương lai cách hiện tại một ngày; &lt;em&gt;hôm kia &lt;/em&gt;trỏ thời điểm trong quá khứ cách hiện tại một ngày. Để trỏ 3 ngày liên tiếp sau ngày &lt;em&gt;kia&lt;/em&gt;, chúng ta có 3 từ ngày &lt;em&gt;kìa, &lt;/em&gt;ngày&lt;em&gt; kỉa, &lt;/em&gt;ngày&lt;em&gt; kĩa.&lt;/em&gt; Thậm chí &lt;em&gt;ngày kịa &lt;/em&gt;là ngày xảy ra tiếp theo sau nữa&lt;em&gt;.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tương lai xa: &lt;em&gt;sau này; một ngày kia, đời sau, kiếp sau&lt;/em&gt;. Không nói “*sau &lt;em&gt;kia&lt;/em&gt;”, nên &lt;em&gt;kia&lt;/em&gt; không phải là một đại từ chỉ định tạo ra một mốc thời gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các từ ghép thời gian được tổ hợp theo trật tự quan hệ &lt;em&gt;trước-sau&lt;/em&gt;: năm tháng, ngày giờ, giờ phút; phút giây. Nhưng cũng nói &lt;em&gt;giây phút. &lt;/em&gt;Vậy phải chăng người Việt không tri nhận sự khác biệt giữa những đơn vị thời gian quá nhỏ &lt;em&gt;phút &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;giây&lt;/em&gt;?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dùng từ xác định (&lt;em&gt;nọ&lt;/em&gt;), từ phiếm định (&lt;em&gt;nào&lt;/em&gt;) để tạo ra sự phân biệt thời gian: &lt;em&gt;hôm nào, ngày nào &lt;/em&gt;trỏ tương lai; &lt;em&gt;hôm nọ, ngày nọ &lt;/em&gt;trỏ quá khứ . Lưu ý: Trong câu hỏi, điểm hỏi có thể đặt ở quá khứ, nên &lt;em&gt;hôm nào, ngày nào &lt;/em&gt;có thể dùng để hỏi một thời điểm ở quá khứ: Chuyện ấy xảy ra &lt;em&gt;hôm nào?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để tạo ra một &lt;em&gt;thời điểm, thời đoạn không xác định &lt;/em&gt;trong tương lai, có cách dùng một từ trỏ thời điểm, thời đoạn A kết hợp với &lt;em&gt;nào&lt;/em&gt; theo cấu trúc: “A &lt;em&gt;nào &lt;/em&gt;+ thuộc tính”: &lt;em&gt;Hôm nào, dịp nào &lt;/em&gt;rảnh, anh ghé chơi; &lt;em&gt;Hôm nào&lt;/em&gt; tiện tôi sẽ lại thăm anh ấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.3 Trong tiếng Việt tồn tại những động từ tình thái có tiền giả định đòi hỏi về thuộc tính thời gian chưa xảy ra hoặc đã xảy ra của động từ trung tâm ở phần bổ ngữ của nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Mới, vừa, rồi &lt;/em&gt;- động từ trung tâm đã xảy ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Định, toan, chực,…&lt;/em&gt;- động từ trung tâm chưa xảy ra.&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;4.5.4 &lt;em&gt;Phạm trù thời gian &lt;u&gt;tức thì&lt;/u&gt;:&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;strong&gt;ngay&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông ta hay ăn nói xa xôi, nhiều khi tôi không &lt;em&gt;hiểu ngay&lt;/em&gt;. (Câu này có thời điểm nhìn trong quá khứ; còn &lt;em&gt;nhiều khi &lt;/em&gt;trỏ sự lặp lại trong quá khứ.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.5 P&lt;em&gt;hạm trù thời gian sự tình &lt;u&gt;lặp lại&lt;/u&gt;:&lt;/em&gt; Phương thức dùng &lt;em&gt;lượng từ &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.4.1 Cấu trúc &lt;strong&gt;“A khi X”, “A lúc X”&lt;/strong&gt;,&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;ở đó A = &lt;em&gt;nhiều, ít, lắm, mọi, mỗi, &lt;/em&gt;luôn luôn trỏ sự tình X đã xuất hiện, nghĩa là đã xảy ra trong quá khứ, với mức độ lặp lại là A. Có những phân biệt sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Mọi khi X”&lt;/em&gt;. Cấu trúc này có nghĩa “trong quá khứ &lt;em&gt;luôn luôn &lt;/em&gt;xảy ra X”. và có tiền giả định “hiện nay &lt;em&gt;không &lt;/em&gt;X”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“&lt;em&gt;Mỗi khi X &lt;/em&gt;(thì Y)”. Cấu trúc này nêu một &lt;em&gt;qui luật &lt;/em&gt;về quan hệ nhân quả giữa X và Y: Trong quá khứ, ở tất cả các trường hợp xảy ra X thì cũng đều xảy ra Y. Cấu trúc này được rút gọn thành “&lt;em&gt;Mỗi khi X&lt;/em&gt;, Y”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“&lt;em&gt;Lắm khi(/lúc) X&lt;/em&gt;”, “&lt;em&gt;nhiều khi (/lúc) X &lt;/em&gt;”, “&lt;em&gt;ít khi X&lt;/em&gt;”. Cấu trúc này có nghĩa “X đã xảy ra &lt;em&gt;lắm &lt;/em&gt;lần, &lt;em&gt;nhiều &lt;/em&gt;lần, &lt;em&gt;ít &lt;/em&gt;lần trong quá khứ”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“&lt;em&gt;Có khi X&lt;/em&gt;”. Từ &lt;em&gt;có &lt;/em&gt;chỉ sự tồn tại. Vậy cấu trúc này có nghĩa là “X &lt;em&gt;đã từng&lt;/em&gt; xuất hiện trong quá khứ”. &lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.4.2 Dùng từ &lt;em&gt;mấy&lt;/em&gt;, một lượng từ phiếm định biểu thị một số lượng ít, để biểu hiện quá khứ gần theo cấu trúc “&lt;strong&gt;mấy – &lt;/strong&gt;đơn vị thời gian &lt;strong&gt;+ nay/sau/nữa”. &lt;/strong&gt;Ở đó, “&lt;em&gt;Mấy – nay&lt;/em&gt;”biểu thị quá khứ gần (theo đơn vị thời gian)cho đến hiện đại: &lt;em&gt;mấy&lt;/em&gt; hôm(/ngày/ năm/ tháng) &lt;em&gt;nay&lt;/em&gt; trời mưa tầm tã.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“&lt;em&gt;Mấy – sau&lt;/em&gt;” biểu hiện thời điểm nhìn trong quá khứ và sự tình xảy ra trong quá khứ:&lt;em&gt; mấy&lt;/em&gt; hôm/ngày &lt;em&gt;sau &lt;/em&gt;trời mưa tầm tã; “Lão ta thù dai, tôi nói sơ ý một chút mà &lt;em&gt;mấy &lt;/em&gt;tháng&lt;em&gt; sau &lt;/em&gt;lão ta vẫn còn giận”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì &lt;em&gt;nữa &lt;/em&gt;là chỉ tố tương lai gần ( §4.5.2) nên &lt;em&gt;mấy… nữa&lt;/em&gt; biểu hiện thời điểm nhìn trong tương lai và sự tình cũng xảy ra trong tương lai gần (theo đơn vị thời gian): Mấy ngày nữatrời sẽ mưa tầm tã cho mà xem.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cần chú ý tới vai trò của từ &lt;strong&gt;mấy&lt;/strong&gt;. Trong khi &lt;em&gt;ngày nay&lt;/em&gt; trỏ thời hiện đại thì &lt;em&gt;mấy ngày nay&lt;/em&gt; trỏquá khứ gần cho đến hiện tại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.5 &lt;em&gt;Phạm trù thời gian sự tình &lt;u&gt;liên tiếp&lt;/u&gt;, &lt;u&gt;tiếp diễn&lt;/u&gt;:&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;từ tình thái &lt;strong&gt;liền&lt;/strong&gt; , &lt;strong&gt;luôn luôn&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cấu trúc: “đơn vị thời gian + &lt;em&gt;liền&lt;/em&gt;”,&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;từ &lt;em&gt;liền &lt;/em&gt;biểu hiện sự liên tục về thời gian trong thời điểm nhìn.&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;( cấu trúc này&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;em&gt;không chấp nhận những câu không có đơn vị thời gian)&lt;/em&gt;. Ví dụ: &lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;Mùa mất &lt;em&gt;mấy năm liền.&lt;/em&gt; &lt;strong&gt;(&lt;/strong&gt;*mùa mất mấy năm liền); Tôi mất ngủ &lt;em&gt;mấy ngày liền.&lt;/em&gt; (*tôi mất ngủ mấy ngày liền); Phải uống &lt;em&gt;3 tuần liền&lt;/em&gt; mới hết bệnh. (*Phải uống 3 tuần liền mới hết bệnh)&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ &lt;em&gt;luôn luôn &lt;/em&gt;biểu hiện sự tình thường xuyên xảy ra trong quá khứ: “Dạo này cô ấy luôn luôn vắng nhà”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.6 &lt;em&gt;Tạo ý nghĩa thời gian qua cấu trúc cú pháp&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.6.1 Để chỉ một thời đoạn khá xa xảy ra trong quá khứ và kéo dài cho đến hiện tại, chúng ta dùng lối nói con người chuyển động trong không gian “Từ A đến B” để thành “Từ &lt;em&gt;bấy&lt;/em&gt; đến nay”, “Từ &lt;em&gt;bấy lâu&lt;/em&gt; đến nay”, “Từ &lt;em&gt;lâu &lt;/em&gt;đến nay”, “Từ &lt;em&gt;trước&lt;/em&gt; đến &lt;em&gt;nay&lt;/em&gt;”, “Từ &lt;em&gt;trước&lt;/em&gt; đến &lt;em&gt;đây&lt;/em&gt;”, “Từ &lt;em&gt;xưa&lt;/em&gt; đến &lt;em&gt;nay&lt;/em&gt;”, “Từ &lt;em&gt;nãy &lt;/em&gt;đến &lt;em&gt;giờ&lt;/em&gt;”… sau đó rút gọn cặp &lt;em&gt;từ …đến &lt;/em&gt;và còn lại &lt;em&gt;bấy nay, bấy lâu nay, lâu nay, trước nay, trước đây, xưa nay, nãy giờ…&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.5.6.2 Một trong những đặc điểm tri nhận của người Việt là&lt;em&gt; lấy hai cực điểm làm mốc để tạo ra một phán đoán khái quát, tổng thể&lt;/em&gt;. Thật vậy:&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Những cách nói có ý nghĩa tổng thể, khái quát liên quan đến không gian&lt;/em&gt;: &lt;em&gt;đầu đuôi&lt;/em&gt; câu chuyện; &lt;em&gt;đầu &lt;/em&gt;làng &lt;em&gt;cuối &lt;/em&gt;xóm; &lt;em&gt;trước sau&lt;/em&gt; như một; &lt;em&gt;thượng &lt;/em&gt;vàng &lt;em&gt;hạ &lt;/em&gt;cám (hai cực trên dưới); “Làm trai cho đáng nên trai,/Xuống &lt;em&gt;Đông&lt;/em&gt;, Đông tĩnh, lên &lt;em&gt;Đoài,&lt;/em&gt; Đoài yên” (hai cực đông tây), “Trong &lt;em&gt;Nam&lt;/em&gt; ngoài &lt;em&gt;Bắc&lt;/em&gt;, ai cũng biết vụ này” (hai cực Bắc Nam)&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Những cách nói có ý nghĩa tổng thể, khái quát liên quan đến thời gian &lt;/em&gt;và do vậy &lt;em&gt;đúng với mọi thời điểm&lt;/em&gt;: &lt;em&gt;Xưa nay &lt;/em&gt;lệ này không thay đổi; &lt;em&gt;trước nay &lt;/em&gt;công việc vẫn vậy; &lt;em&gt;trước sau &lt;/em&gt;gì cũng thế thôi.&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;4.5.6.3 Trong tiếng Việt có những cặp từ hô ứng&lt;em&gt; phiếm định – xác định &lt;/em&gt;để tạo ra những phán đoán khái quát &lt;em&gt;bao-bấy; nào-ấy; nào-đó; đâu-đấy; đâu-đó. &lt;/em&gt;Các phán đoán khái quát về thời gian cũng theo khuôn này. Một mặt, để tạo ra phán đoán khái quát có thể dùng cặp &lt;em&gt;phiếm định – xác định “&lt;strong&gt;bao … bấy&lt;/strong&gt;”&lt;/em&gt; theo mô hình &lt;em&gt;“&lt;strong&gt;bao X … bấy X&lt;/strong&gt;”, &lt;/em&gt;hoặc &lt;em&gt;“&lt;strong&gt;nào … ấy/đó&lt;/strong&gt;” &lt;/em&gt;theo mô hình “&lt;strong&gt;X &lt;em&gt;nào … &lt;/em&gt;X &lt;em&gt;ấy/đó&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;”. Mặt khác, thời gian chuyển động và các sự tình hữu quan được nhắc tới không vô tình đi liền kề nhau mà có quan hệ nhân quả, nên những phán đoán này một cách khái quát cũng nêu quan hệ nhân quả giữa hai sự tình được nhắc tới. Do vậy, cấu trúc &lt;em&gt;“&lt;strong&gt;bao X … bấy X&lt;/strong&gt;”&lt;/em&gt; luôn luôn trỏ một &lt;em&gt;phán đoán nhân quả khái quát&lt;/em&gt; nên ta có thể chêm từ &lt;em&gt;thì &lt;/em&gt;với chức năng liên kết nhân quả - xen vào cặp phiếm định – xác định. Sự xuất hiện từ &lt;em&gt;thì&lt;/em&gt; dẫn tới một hệ quả là từ “&lt;em&gt;bấy&lt;/em&gt;” không cần thiết nữa cho quan hệ hô ứng nhân quả nữa. Và lúc này có thể lược &lt;em&gt;bấy, &lt;/em&gt;rồi tiếp tục lược bỏ &lt;em&gt;thì&lt;/em&gt;.&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Tập hợp&lt;/em&gt;: &lt;strong&gt;X =&lt;/strong&gt; &lt;em&gt;nhiêu,&lt;/em&gt; trỏ số lượng. “&lt;em&gt;Bao&lt;/em&gt; nhiêu người &lt;em&gt;bấy&lt;/em&gt; nhiêu ý kiến ”&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Thời gian&lt;/em&gt;: &lt;strong&gt;X= &lt;/strong&gt;&lt;em&gt;giờ, &lt;/em&gt;trỏ thời gian. &lt;em&gt;Bao&lt;/em&gt; giờ có bằng tiến sĩ &lt;em&gt;bấy&lt;/em&gt; giờ tôi mới nghĩ tới chuyện lập gia đình. → &lt;em&gt;Bao&lt;/em&gt; giờ có bằng tiến sĩ &lt;em&gt;thì &lt;/em&gt;tôi mới nghĩ tới chuyện lập gia đình. → &lt;em&gt;Bao&lt;/em&gt; giờ có bằng tiến sĩ, tôi mới nghĩ tới chuyện lập gia đình. &lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Tập hợp&lt;/em&gt;: &lt;strong&gt;X = &lt;/strong&gt;một đối tượng nào đó: “người nào làm người ấy chịu”; “ăn cây nào, rào cây ấy”&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Thời gian &lt;/em&gt;: &lt;strong&gt;X= &lt;/strong&gt;&lt;em&gt;khi, lúc&lt;/em&gt;. Tương tự, cấu trúc “&lt;strong&gt;X &lt;em&gt;nào … &lt;/em&gt;X &lt;em&gt;ấy/đó&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;” luôn luôn trỏ một phán đoán nhân quả khái quát. Giống như cấu trúc “bao X … bấy X”, ở cấu trúc này cũng có thể chêm từ &lt;em&gt;thì &lt;/em&gt;xen giữa cặp phiếm định – xác định. Và lúc này từ xác định “X &lt;em&gt;ấy&lt;/em&gt;” cũng có thể lược đi. Ví dụ: “&lt;em&gt;Khi nào&lt;/em&gt; có quyết định, &lt;em&gt;khi ấy&lt;/em&gt; tôi mới bàn giao công việc.” → &lt;em&gt;Khi nào&lt;/em&gt; có quyết định &lt;em&gt;thì &lt;/em&gt;tôi mới bàn giao công việc. → &lt;em&gt;Khi nào&lt;/em&gt; có quyết định tôi mới bàn giao công việc.&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;5&lt;/strong&gt;. &lt;strong&gt;Các hành vi ngôn ngữ tiền giả định (TGĐ) về thời gian của sự tình &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các hành vi ngôn ngữ TGĐ về thời gian của sự tình. Mỗi loại hành vi ngôn ngữ (HVNN) thường có những kiểu cấu trúc xác định. Như vậy, những cấu trúc thể hiện một HVNN đều TGĐ về thời gian của sự tình. Chúng ta nêu một số ví dụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi &lt;em&gt;ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo, hứa hẹn &lt;/em&gt;thực hiện hoặc không thực hiện một điều X nào đó thì cái điều X ấy chưa xảy ra. Một cấu trúc của hành vi mệnh lệnh bắt thực hiện hành động X là “&lt;em&gt;X đi!&lt;/em&gt;” (Học bài đi!). Từ &lt;em&gt;đi &lt;/em&gt;trong cấu trúc này cho biết “X chưa xảy ra”. Một cấu trúc của hành vi đề nghị thực hiện hành động X là “&lt;em&gt;X một chút&lt;/em&gt;” (chờ một chút!). Từ &lt;em&gt;một chút &lt;/em&gt;trong cấu trúc này cũng cho biết “X chưa xảy ra”. Khi người nghe chấp nhận một &lt;em&gt;mệnh lệnh, một yêu cầu, một đề nghị &lt;/em&gt;thực hiện điều X hoặc người nói hứa hẹn, khuyên bảo thực hiện điều X thì X sẽ xảy ra trong tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có hiện tượng mơ hồ của các hành vi ngôn ngữ. Hiện tượng này kéo theo sự mơ hồ về thời gian của sự tình. Ví dụ: “Phải uống &lt;em&gt;3 tuần liền&lt;/em&gt; mới hết bệnh” là một câu mơ hồ. a) Nếu là lời của một người khác (bác sĩ chẳng hạn) thì đây là câu &lt;em&gt;mệnh lệnh&lt;/em&gt; và sự tình xảy ra trong &lt;em&gt;tương lai&lt;/em&gt; , ai đó chưa uống thuốc 3 tuần liền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;b) Nếu là lời tôi hoặc ai đó &lt;em&gt;tường thuật&lt;/em&gt; lại một sự tình thì hành vi &lt;em&gt;tường thuật &lt;/em&gt;đã tiền giả định rằng sự tình &lt;em&gt;đã &lt;/em&gt;xảy ra trong &lt;em&gt;quá khứ&lt;/em&gt;: Tôi hoặc ai đó &lt;em&gt;đã &lt;/em&gt;uống thuốc 3 tuần liền.&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đôi điều kết luận &lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;br /&gt;&lt;/ol&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;Từ ngữ không gian và nhiều loại từ ngữ khác được chuyển thành từ ngữ thời gian là một hiện tượng rất thú vị của tiếng Việt. Cần tiếp tục nghiên cứu kĩ hơn về hiện tượng này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có những nhóm từ tựa như đồng nghĩa nhưng vẫn có phân biệt trong cách dùng, trong những tổ hợp từ. Ví dụ: Rất nhiều trường hợp đều có thể dùng &lt;em&gt;lát &lt;/em&gt;thay &lt;em&gt;lúc, khi &lt;/em&gt;thay &lt;em&gt;lúc &lt;/em&gt;mà nghĩa gần như không khác. Nói “&lt;em&gt;lát &lt;/em&gt;sau”, cũng nói “&lt;em&gt;lúc &lt;/em&gt;sau”&lt;em&gt;. &lt;/em&gt;Nói “Tôi cần nghỉ một &lt;em&gt;lát&lt;/em&gt;” nhưng cũng nói được “Tôi cần nghỉ một &lt;em&gt;lúc&lt;/em&gt;”. Nói “Khi tôi 10 tuổi” nhưng cũng nói “Lúc tôi 10 tuổi”… Tuy nhiên, nói &lt;em&gt;lát sau &lt;/em&gt;nhưng không nói *&lt;em&gt;lát trước, &lt;/em&gt;nói &lt;em&gt;chốc lát &lt;/em&gt;nhưng không nói *&lt;em&gt;chốc lúc. &lt;/em&gt;Nói “Về cùng lúc” nhưng không nói “*Về cùng khi”…Vậy &lt;em&gt;lát&lt;/em&gt; khác &lt;em&gt;lúc &lt;/em&gt;thế nào, &lt;em&gt;lúc&lt;/em&gt; khác &lt;em&gt;khi &lt;/em&gt;thế nào…Ở những nhóm từ tựa như đồng nghĩa này, bên cạnh việc nghiên cứu định tính, cần có những nghiên cứu định lượng, tức là cần &lt;em&gt;điều tra thống kê&lt;/em&gt;,&lt;em&gt; mới có thể chỉ ra khuynh hướng &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;sắc thái nghĩa &lt;/em&gt;của từng từ một cách thuyết phục. &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p align="center"&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;1. Diệp Quang Ban, &lt;em&gt;ngữ pháp tiếng Việt, tập 2&lt;/em&gt;, 1992, Giáo Dục, Hà Nội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Lê Cận &amp;amp; Phan Thiều, &lt;em&gt;Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập 1 &amp;amp; 2, &lt;/em&gt;1983, Giáo&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Dục Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, &lt;em&gt;Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, &lt;/em&gt;1963, Đại học Huế&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Nguyễn Đức Dân, &lt;em&gt;Lô&lt;/em&gt;&lt;em&gt; gích và tiếng Việt, &lt;/em&gt;nxb Giáo dục, 1996&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5. Nguyễn Đức Dân, “Những giới từ không gian: &lt;em&gt;sự chuyển nghĩa và ẩn dụ&lt;/em&gt;”, &lt;em&gt;Ngôn ngữ, &lt;/em&gt;số 9. 2005&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6. Cao Xuân Hạo, “Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt”, &lt;em&gt;Ngôn ngữ&lt;/em&gt;, số 5, 1998&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;7. Cao Xuân Hạo, &lt;em&gt;Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, &lt;/em&gt;1998, Giáo dục, Tp HCM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;8. Phan Khôi, &lt;em&gt;Việt ngữ nghiên cứu &lt;/em&gt;(tái bản), 1997, nxb Đà Nẵng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;9. Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, &lt;em&gt;Việt Nam văn phạm&lt;/em&gt;, 1940, Hà Nội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10. Hồ Lê, &lt;em&gt;Cú pháp tiếng Việt, quyển 1&lt;/em&gt; (1991)&lt;em&gt;, 2&lt;/em&gt; (1992),&lt;em&gt; 3 &lt;/em&gt;(1993), KHXH, Hà Nội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;11. Lê Văn Lý, &lt;em&gt;Sơ thảo Ngữ pháp Việt Nam,&lt;/em&gt; 1971, Trung tâm học liệu Sài Gòn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;12. Trần Ngọc Ninh, &lt;em&gt;Cơ cấu Việt ngữ, &lt;/em&gt;3 tập,Lửa thiêng, 1974, Sài Gòn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;13. Đào Thản, “Về các nhóm từ có ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt”, &lt;em&gt;Ngôn Ngữ, &lt;/em&gt;số 1, 1979&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;14. Đào Thản, “Cứ liệu từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt về mối quan hệ không gian – thời gian”,&lt;em&gt; Ngôn ngữ, &lt;/em&gt;số 3, 1983&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;15.Nguyễn Kim Thản, &lt;em&gt;Động từ trong tiếng Việt,&lt;/em&gt; 1977, KHXH, Hà Nội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;16. Nguyễn Văn Thành, “Hệ thống các từ chỉ thời-thể và phạm trù ngữ pháp của các cấu trúc thể-thời của động từ tiếng Việt”, &lt;em&gt;Ngôn ngữ, &lt;/em&gt;số 2, 1992&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;17. Lý Toàn Thắng, “Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian”, &lt;em&gt;Ngôn ngữ , &lt;/em&gt;số 4, 1994&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;18. Lý Toàn Thắng, &lt;em&gt;Mấy vấn đề Việt ngữ học và ngôn ngữ học đại cương, &lt;/em&gt;KHXH, 2002, Hà Nội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;19. Huỳnh Văn Thông, “Mấy nhận xét về vị từ tình thái và ý nghĩa thể (espect) trong tiếng Việt”, &lt;em&gt;Ngôn ngữ,&lt;/em&gt; số 8, số 10, 2000&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;20. Phan Thị Minh Thúy, &lt;em&gt;Cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt &lt;/em&gt;(so sánh với tiếng Nga), L.A tiến sĩ, 2003, ĐHKHXH&amp;amp;NV Tp HCM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;21. Nguyễn Minh Thuyết &amp;amp; Nguyễn Văn Hiệp, &lt;em&gt;Thành phần câu trong tiếng Việt,&lt;/em&gt; 1998, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;22. Bùi Đức Tịnh, &lt;em&gt;Văn phạm Việt Nam, giản dị và thực dụng,&lt;/em&gt; Trung-tâm Học-liệu Bộ Giáo Dục, 1968, Sài Gòn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;23. Nguyễn Hoàng Trung, &lt;strong&gt;&lt;em&gt;Thể&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;em&gt; trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Pháp và tiếng Anh)&lt;/em&gt;, luận án tiến sĩ, 2005, ĐHKHXH&amp;amp;NV Tp HCM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;24. Hoàng Tuệ, &lt;em&gt;Giáo trình Việt ngữ&lt;/em&gt;, 1962, Giáo dục, Hà Nội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;25. &lt;em&gt;Từ điển tiếng Việt, &lt;/em&gt;Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, 1992&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;26. G. Fauconnier, &lt;em&gt;Mental Spaces: Aspects of Meaning Construction in Natural language, &lt;/em&gt;Cambridge University Press, 1994&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;27. G. Lakoff &amp;amp; M. Jhonson, &lt;em&gt;Metaphors We Live By,&lt;/em&gt; University of Chicago Press, 1980&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;28. Thompson, Laurence C., &lt;em&gt;A Vietnamese Grammar&lt;/em&gt;, University of Washington, Press, Seatle, 1967&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div id="ftn1"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a id="_ftn1" title="" href="http://www.blogger.com/post-edit.g?blogID=7747722679074816162&amp;amp;postID=8831542869330757159#_ftnref1" name="_ftn1"&gt;&lt;/a&gt;Đào Thản là người đầu tiên dùng thuật ngữ &lt;em&gt;thời điểm và thời đoạn&lt;/em&gt;, xem [13 ]. Sự phân biệt giữa thời điểm và thời đoạn trên trục thời gian giống như sự phân biệt giữa &lt;em&gt;điểm &lt;/em&gt;và &lt;em&gt;đoạn thẳng &lt;/em&gt;trên một đường thẳng. &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/7747722679074816162-8831542869330757159?l=ngonnguviet.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/feeds/8831542869330757159/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/01/tri-nhan-thoi-gian-trong-tieng-viet.html#comment-form' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/8831542869330757159'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/7747722679074816162/posts/default/8831542869330757159'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://ngonnguviet.blogspot.com/2010/01/tri-nhan-thoi-gian-trong-tieng-viet.html' title='Tri nhận  thời gian trong tiếng Việt'/><author><name>Nguyen Truong Son</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09468257588138653470</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry></feed>
